vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về nuôi con chung: Con chung tên Nguyễn Thị Cẩm S, sinh ngày 30-10-1994 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 30-01-2004 đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thành Công.

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 63/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1976 - Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T - Sinh năm 1975 - Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08-3-2022, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông T tổ chức đám cưới năm 1994, có đăng ký kết hôn ngày 17-4-2000 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Hoà Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Trong thời gian chung sống ông bà có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T không quan tâm đến gia đình vợ con. Bà đã cố gắng khuyên can để vợ chồng cùng lo cho các con khôn lớn nhưng ông T vẫn không thay đổi. Bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ giải quyết cho bà các vấn đề sau: Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm S, sinh ngày 30-10-1994 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 30-01-2004. Vì 02 con chung đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn T, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. [2] Ông T được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. [3] Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn T chung sống có đăng ký kết hôn ngày 17-4-2000 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Hoà Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình. [3] Xét yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử nhận định: Bà H cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do ông T không quan tâm đến gia đình vợ con. Ông T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không có căn cứ xem xét; qua lời trình bày của bà H, Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó, việc bà H yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về nuôi con chung: Hai con chung Nguyễn Thị Cẩm S, sinh ngày 30-10-1994 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 30-01-2004, đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. [5] Về chia tài sản chung và nợ chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy:

Bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

2. Về nuôi con chung: Con chung tên Nguyễn Thị Cẩm S, sinh ngày 30-10-1994 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 30-01-2004 đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0005205 ngày 30-5-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ