vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Văn T đối với chị Tạ Thị T về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Văn T được ly hôn với chị Tạ Thị T (chấm dứt quan hệ hôn nhân). Về nuôi con chung: Giao cháu Lâm Thị Hồng D, sinh ngày 22/10/2013; cháu Lâm thị Hồng C, sinh ngày 13/8/2015 và cháu Lâm Tuấn K, sinh ngày 26/5/2017 cho anh Lâm Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Văn T đối với chị Tạ Thị T về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL,
TỈNH ĐẮKNÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30/6/2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Duy Chấn.

2. Bà Hoàng Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 237/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2021 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lâm Văn T (Có đơn xin xét xử vắng mặt), sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.

- Bị đơn: Chị Tạ Thị T (Vắng mặt), sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, anh Lâm Văn T (nguyên đơn) trình bày: Anh Lâm Văn T và chị Tạ Thị T kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 17/4/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ. Việc kết hôn và đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 03 con chung: Cháu Lâm Thị Hồng D, sinh ngày 22/10/2013; cháu Lâm thị Hồng C, sinh ngày 13/8/2015 và cháu Lâm Tuấn K, sinh ngày 26/5/2017. Hiện cả 03 cháu đang ở cùng với anh T tại thôn A, xã Đ, huyện Đ. Về tài sản vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai cả.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc; gần đây vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, lối sống, việc ai lấy làm, không quan tâm đến nhau, con cái và gia đình, mặc dù đã tổ chức họp gia đình nhiều lần nhưng vẫn không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019. Do vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa, không còn tình cảm với nhau nên anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho aanh được ly hôn với chị T và anh T có quan điểm như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T xin được ly hôn với chị Tạ Thị T.

Về con chung: Anh T xin được chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 cháu: Cháu Lâm Thị Hồng D, sinh ngày 22/10/2013; cháu Lâm thị Hồng C, sinh ngày 13/8/2015 và cháu Lâm Tuấn K, sinh ngày 26/5/2017 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Vợ chồng không có tài sản gì và không nợ ai cả nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với chị Tạ Thị T (bị đơn): trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; các giấy triệu tập, thông báo về phiên hòa giải đoàn tụ, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải đối với chị Tạ Thị T, mặc dù đã biết được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt nhưng chị T vẫn vắng mặt mà không có lý do trong tất cả các lần triệu tập, phiên họp và hòa giải, xét xử tại Tòa án. Do chị T vắng mặt nên không có lời khai cũng như không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, chị T phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Văn T được ly hôn với chị Tạ Thị T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Lâm Thị Hồng D, sinh ngày 22/10/2013; cháu Lâm Thị Hồng C, sinh ngày 13/8/2015 và cháu Lâm Tuấn K, sinh ngày 26/5/2017 cho anh Lâm Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: anh Lâm Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Lâm Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với chị Tạ Thị T, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn (chị Tạ Thị T) có đăng ký hộ khẩu và sinh sống tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.3. Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Lâm Văn T (nguyên đơn) vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên anh T đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án. Đối với chị Tạ Thị T (bị đơn) đã được Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil triệu tập hợp lệ đến 02 lần (tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa) để tham gia phiên tòa nhưng chị T vẫn vắng mặt mà không có lý do gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

2. Về nội dung vụ án:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Văn T và chị Tạ Thị T kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 17/4/2013 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ; việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận. Trong quá trình chung sống hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng đoàn tụ. Anh T và chị T cũng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019; giữa các bên không còn quan tâm, yêu T, chăm sóc với nhau nữa. Anh T cũng thừa nhận, anh không còn tình cảm với chị T, không muốn tiếp tục chung sống với chị T và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống, hôn nhân không đạt được mục đích; mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục; anh T và chị T đã không còn tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, hôn nhân của anh T và chị T thật sự không đạt được mục đích. Do đó, Hội đồng xét xử cần căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lâm Văn T.

2.2 Về nuôi con chung: Anh Lâm Văn T có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lâm Thị Hồng D, sinh ngày 22/10/2013; cháu Lâm Thị Hồng C, sinh ngày 13/8/2015 và cháu Lâm Tuấn K, sinh ngày 26/5/2017 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của các con chưa thành niên.

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì thì Tòa án quyết định giao con cho một bên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Hiện nay, cả 03 cháu: cháu Lâm Thị Hồng D, cháu Lâm Thị Hồng C và cháu Lâm Tuấn K đang ở cùng với anh T, do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; từ khi hai vợ chồng sống ly thân (năm 2019), chị T đã về nhà ông, bà ngoại sinh sống, không quan tâm, chăm sóc các con; qua biên bản lấy lời khi thì cháu D và cháu C đều có nguyện vọng được ở cùng với anh T; anh T hiện có chỗ ở hợp pháp, có thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con nên cần giao cháu Lâm Thị Hồng D, cháu Lâm Thị Hồng C và cháu Lâm Tuấn K cho anh Lâm Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành.

2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

2.4 Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng không có tài sản gì chung; trong thời gian chung sống, không vay mượn của ai hay cho ai vay mượn tài sản gì và các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì anh Lâm Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228; Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Văn T đối với chị Tạ Thị T về việc ly hôn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Văn T được ly hôn với chị Tạ Thị T (chấm dứt quan hệ hôn nhân).

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lâm Thị Hồng D, sinh ngày 22/10/2013; cháu Lâm thị Hồng C, sinh ngày 13/8/2015 và cháu Lâm Tuấn K, sinh ngày 26/5/2017 cho anh Lâm Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung, người trực tiếp nuôi con không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục các cháu.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110 ; Điều 117 và Điều 119 Luật Hôn nhân gia đình 2014.

4. Về chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: anh Lâm Văn T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000611 ngày 03/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đ.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ