vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.

Buộc anh Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con sau ly hôn là Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 19/01/2014 và Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/12/2015 (mỗi con là 1.000.000 đồng) cho chị Nguyễn Thị H. Tổng số tiền cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng/2con cho đến khi các con đủ 18 tuổi (thành n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị H yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng cho con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/9/2022
V/v: Yêu cầu cấp dưỡng cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG- TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quý Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Huy Điệu;

2. Ông Triệu Ngọc Vạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Loan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc yêu cầu cấp dưỡng cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên toà số 18/2022/QĐST- HNGĐ, ngày 31/8/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương;

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1986; Vắng mặt lần thứ hai.

Địa chỉ: Khu 1, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc nguyên đơn – chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn M đã được Toà án nhân dân huyện Ninh Giang giải quyết ly hôn bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 51/2018/QĐST HNGĐ, ngày 23/4/2018 theo nội dung Quyết định về con chung: chị và anh M thống nhất giao cả hai con chung là Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 19/01/2014 và Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/12/2015 cho chị tiếp tục nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng cho con. Do thời điểm đó chị được gia đình hỗ trợ về chỗ ở cũng như sức khoẻ tốt nên chị hoàn toàn đảm bảo việc nuôi dưỡng cả hai con mà không cần cấp dưỡng nuôi con từ phía anh M. Đến thời điểm hiện nay, chị gặp khó khăn về kinh tế do dịch bệnh liên tục nên chị không làm thêm nhiều cộng với các con đã lớn, chi phí nuôi dạy các con ngày càng nhiều nên chị đề nghị Toà án giải quyết buộc anh M phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng/01 con đến khi các con đủ 18 tuổi (thành niên).

Hiện nay, chị đang làm công nhân tại công ty Sumidenso Việt nam Co., Ltd (SDVN) thu nhập bình quân hàng tháng khoảng hơn 5.000.000 đồng.

Bị đơn – anh Nguyễn Văn M: Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập anh M đến làm việc, tham gia phiên họp, phiên toà song anh đều vắng mặt không có lý do.

Chính quyền địa phương thị trấn N cung cấp: Hiện nay anh Nguyễn Văn M làm nghề tự do, thu nhập như thế nào thì địa phương không nắm được, hiện nay anh M đã kết hôn với người vợ thứ ba và có 01 con nhỏ cùng sinh sống tại khu 1, thị trấn N, huyện N. Chị H yêu cầu anh M phải cấp dưỡng cho con đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các con chung.

Tại phiên Tòa: Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng cho con là 1.000.000 đồng/tháng/1 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi (thành niên).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang có quan điểm xác định việc Tòa án thụ lý, quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng các điều 82, 83 107, 110, 116, 117, 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con sau ly hôn là Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 19/01/2014 và Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/12/2015 cho chị Nguyễn Thị H. Số tiền cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng/2 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi (thành niên) hoặc khi có sự thay đổi khác.Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9 năm 2022; Anh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự trong phần tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập anh M đến làm việc, tham gia phiên họp song anh đều vắng mặt không có lý do; Chị Hoa đề nghị không tiến hành hòa giải; Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần hai nên vụ án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại các điều 207, 227 và Điều 228 BLTTDS.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hội đồng xét xử thấy: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn M có hai con chung là Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 19/01/2014 và Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/12/2015. Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự chị Hoa nuôi cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng cho con.

Theo đơn khởi kiện chị Hoa yêu cầu anh M phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con hàng tháng cụ thể mức cấp dưỡng cho hai con là 2.000.000 đồng/tháng/2 con đến khi các con đủ 18 tuổi (thành niên). Xét thu nhập của anh M là lao động tự do và điều kiện nuôi con của chị Hoa nên yêu cầu cấp dưỡng chị Hoa là phù hợp với thu nhập của anh M. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hoa về việc yêu cầu anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng (mỗi con là 1.000.000 đồng) với số tiền là 2.000.000 đồng/tháng/02 con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (thành niên). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2022.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (cấp dưỡng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 82, 83, 107, 110, 116, 117, 119 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về…án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.

Buộc anh Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con sau ly hôn là Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 19/01/2014 và Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/12/2015 (mỗi con là 1.000.000 đồng) cho chị Nguyễn Thị H. Tổng số tiền cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng/2con cho đến khi các con đủ 18 tuổi (thành niên) hoặc khi có sự thay đổi khác. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9 năm 2022.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Cho đến khi thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015. .

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (án phí cấp dưỡng).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ