- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điều 38; khoản 1 Điều 273; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Các Điều 58, 69, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình xử:
- Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình xử
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/HNGĐ-PT Ngày: 30 - 12 - 2022 V/v: "Tranh chấp nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Quang Trung;
Ông Phạm Văn Phấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bảo Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án phúc thẩm thụ lý số 23/2022/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc: Tranh chấp nuôi con khi ly hôn do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2022/HNGĐ-ST ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố V bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐ-PT ngày 25/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2022/QĐ-PT ngày 14/12/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chu Thị Á, sinh năm 1992. (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Khối Trung Đ, phường Hưng D, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Đặng Công N, sinh năm 1979. (Có mặt).
Địa chỉ: Khối Trung Đ, phường Hưng D, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- Người kháng cáo: Bị đơn: Anh Đặng Công N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Đơn khởi kiện ngày 18/01/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Chu Thị Á trình bày:
Quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị Á và anh Đặng Công N được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng kí kết hôn ngày 17/01/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Hưng D, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, trong cuộc sống không quan tâm chăm sóc nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống của vợ chồng không còn phù hợp, cuộc sống gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng. Từ khi kết hôn đến nay anh N đã 02 lần đi thi hành án phạt tù và 01 lần đi cai nghiện. Đến tháng 7/2021, khi anh N vi phạm pháp luật bị bắt giam thì mâu thuẫn lại càng trở nên trầm trọng. Bản thân hai vợ chồng cũng vì con cái và được hai bên gia đình động viên nhưng không cải thiện được tình cảm. Nay chị Chu Thị Á xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị và anh N được ly hôn.
Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Á và anh N có 02 con chung là Đặng Chu Bảo Y, sinh ngày 05/10/2012 và Đặng Khắc Tùng L, sinh ngày 01/10/2014. Vì anh N đang phải thi hành án phạt tù nên chị Á có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng. Khi nào anh N chấp hành án xong, nếu anh N muốn nuôi con thì chị cũng đồng ý.
Về tài sản: Chị Chu Thị Á không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm chị Á vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn anh Đặng Công N vắng mặt tại phiên tòa do hiện đang thi hành án phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình. Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Các bản tự khai đề ngày 13/3/2022 và ngày 14/4/2022 anh N thừa nhận các mối quan hệ hôn nhân, con chung như chị Á trình bày nhưng anh đang còn tình cảm với vợ và thương các con nên có nguyện vọng được đoàn tụ gia đình, tuy nhiên nếu chị Á không còn tình cảm với anh muốn được ly hôn thì anh cũng tôn trọng ý kiến của chị Á.
Việc nôi con chung: Nếu ly hôn anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị Á cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Anh N trình bày do vợ chồng ở chung với bố mẹ chồng nên không có tài sản gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án số 41/2022/HNGĐ-ST ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố V đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 69, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Chu Thị Á và anh Đặng Công N
2. Về nuôi con chung: Giao cả hai con chung là Đặng Chu Bảo Y, sinh ngày 05/10/2012 và Đặng Khắc Tùng L, sinh ngày 01/10/2014 cho chị Chu Thị Á trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Công N.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/8/2022 Tòa án nhân dân thành phố V đã nhận được đơn kháng cáo của anh Đặng Công N thông qua Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình, đơn kháng cáo của anh Đặng Công N đề ngày 26/6/2022 với nội dung: Anh Đặng Công N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Yêu cầu cấp phúc thẩm giao hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu chị Chu Thị Á cấp dưỡng nuôi con. Lý do kháng cáo: Hiện tại anh N không biết chị Chu Thị Á đi đâu, làm gì. Chị Á đã giao lại hai con cho bố mẹ của anh N nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh Đặng Công N giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến tại phiên
tòa:
Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật, nguyên đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình mà pháp luật Tố tụng dân sự quy định. Về nội dung: Đơn kháng cáo của anh Đặng Công N làm trong hạn nhưng việc chuyển giao đến Tòa cấp sơ thẩm chậm nhưng việc làm và giao nhận đơn kháng cáo của anh N là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của anh Đặng Công N thấy: Sau khi xét xử sơ thẩm thì Tòa án đã tống đạt hợp lệ bản án và thông báo việc kháng cáo cho nguyên đơn nhưng chị Á đã đi khỏi địa phương không rõ địa chỉ, sau khi thụ lý vụ án để xét xử theo trình tự phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã tống đạt các văn bản tố tụng cho nguyên đơn nhưng chị Á không có mặt tại địa phương nay Nam đã chấp hành xong hình phạt tù do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Công N áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 sửa bản án sơ thẩm về phần nuôi con chung khi ly hôn, anh N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của bị đơn đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An. Hội đồng xét xử nhận định:
. Thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đặng Công N nhận được bản án sơ thẩm ngày 25/6/2022 đến ngày 26/6/2022 anh làm đơn kháng cáo và được Trại giam Đồng S, tỉnh Quảng Bình chuyển đi ngày 30/7/2022 (Theo dấu bưu chính đóng lên bì thư). Như vậy đơn kháng cáo của anh N làm và nộp trọng hạn luật định, nội dung, hình thức đơn phù hợp với quy định pháp luật. Mãn hạn tù về ngày 09/10/2022 anh N mới nhận được Thông báo nộp tiền Tạm ứng án phí phúc thẩm số 2998/TB-TA, ngày 01/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố V thông qua Thừa phát lại. Sau khi anh N nhận được Thông báo thì đến ngày 12/10/2022 anh Đặng Công N đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ, trong thời hạn. Vậy nên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án để giải quyết theo trình tự phúc thẩm quy định tại điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Phần bản án không có kháng cáo:
Quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị Á và anh Đặng Công N là vợ chồng được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17/2012 do UBND phường Hưng D, thành phố V, tỉnh Nghệ An cấp, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Á và anh N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận bảo vệ. Các đương sự đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn dẫn tới mục đích hôn nhân không đạt được điều này phù hợp với kết quả xác minh của cấp sơ thẩm tại nơi cư trú của họ. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin được ly hôn thì bị đơn tôn trọng và không có ý kiến nào khác. Bởi vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào pháp luật nội dung và hình thức quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho ly hôn giữa chị Chu Thị Á và anh Đặng Công N là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của anh Đặng Công N: Tại phiên tòa phúc thẩm anh N trình bày: Bản thân anh hiện tại đã chấp hành xong hình phạt tù trở về sinh sống tại địa phương từ tháng 9/2022 cho đến nay, đã có việc làm, tuy thu nhập chưa ổn định nhưng bản thân có thể chăm sóc các con chung được. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm chị Á đã đi khỏi địa phương làm gì ở đâu không ai biết điều này phù hợp với lời trình bày hai con chung của anh N và chị Á tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Hơn nữa, nay nguyện vọng của các cháu Đặng Chu Bảo Y và Đặng Khắc Tùng L chọn anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng bởi vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Đặng Công N như lời đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, phù hợp với thực tế nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho con chung của anh N và chị Á.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đặng Công N không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Chu Thị Á.
. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của anh Đặng Công N được chấp nhận nên anh N không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Công N sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điều 38; khoản 1 Điều 273; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Các Điều 58, 69, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình xử:
- Thay đổi quyền nuôi con chung của chị Chu Thị Á. Giao cả hai con chung là Đặng Chu Bảo Y, sinh ngày 05/10/2012 và Đặng Khắc Tùng L, sinh ngày 01/10/2014 cho anh Đặng Công N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Chu Thị Á cho đến khi anh N có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
- Án phí phúc thẩm: Anh Đặng Công N không phải chịu án phí dân sự ly hôn phúc thẩm. Hoàn trả cho anh Đặng Công N số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà anh đã nộp có tại cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0010352, ngày 12 tháng 10 năm 2022.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND thành phố V; - Chi cục THADS thành phố V; - Các đương sự; - UBND phường Hưng D, TP. V; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Lam |