- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Công ty Phân bón F khởi kiện Công ty THHH TH L"
- Tòa quyết gì? *Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU L TỈNH THA HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/DS-ST Ngày 22/4/2022. V/v : “Đòi lại tài sản” |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU L - TỈNH THA HÓA
-Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Chuyên.
Các Hội thẩm nhân dân gồm: Ông Nguyễn Văn Thư
Ông Lê Nam Văn
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án
Tòa án nhân dân huyện Hậu L, tỉnh ThA Hóa.
-Việm kiểm sát nhân dân huyện Hậu L không tham gia phiên Tòa:
………………………………………………….
Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu L, tỉnh ThA Hóa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 05/2020/TLST-DS ngày 02/01/2020 về việc “Đòi lại tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 121/2021/QĐXXST-DS ngày 26/10/2021. Quyết định hoãn phiên tòa số:130/2021/QĐHPT-DS, ngày 17/11/2021. Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 80/2021/QĐGPT-DS, ngày 30/11/2021. Thông báo mở lại phiên tòa số: 28/2022/TB-TA ngày 12/4/2022. Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần phân bón F.
Địa chỉ: Khu T Tr, phường Á Qu, TP Hải Dương, Hải Dương.
*Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc Th - Chức vụ: Giám đốc
*Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lưu Thị H - Sinh năm 1993.
Địa chỉ: Số A, đường Lê Thanh Nghị, TP Hải Dương, Hải Dương.
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Luật sư Phạm Thị D - Văn phòng luật sư Tâm Á - Số A, đường Lê ThA Nghị, Th phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L.
*Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T - Chức vụ: Giám đốc
Địa chỉ: Xã Th L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
*Công ty cổ phần kinh doanh phân bón V H NB
Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Việt A- Chức vụ: Giám đốc
Địa chỉ: Thôn 1, xã E Hl, huyện Ea Hleo, tỉnh Đăk Lăk.
* Công ty cổ phần K Ch
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ch - Chức vụ: Giám đốc
Địa chỉ: Khu T Tr, phường Á Qu, TP Hải Dương, Hải Dương.
*Bà Nguyễn Thị A- Sinh năm 1991
Địa chỉ: Khu A, phường B H,TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương
4. Người làm chứng:
*Ông Phạm Văn Ch - sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn B M, xã Th Qu, TX Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và đại diện bị đơn; Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị Tòa án xử vắng mặt, vắng mặt người làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1.Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Theo hợp đồng mua bán số 170919 ngày 17/9/2019 giữa công ty cổ phần phân bón F có bán cho công ty cổ phần kinh do A phân bón V H NB 20 tấn Lân nguyên liệu và 30 tấn Kaly Lào với tổng số tiền là 249.500.000 đồng. Theo hợp đồng đã ký kết ngày 22/9/2019, Công ty cổ phần phân bón F có thuê lái xe Phạm Văn Ch chở hàng cho Công ty cổ phần kinh doA phân bón V H NB có kho tại Trung ThA, Sơn Hà, Nho Quan, Ninh Bình theo yêu cầu của bên mua số lượng là 600 bao kaly Lào tương đương 30 tấn. Tuy nhiên quá trình giao hàng Công ty cổ phần kinh doA phân bón V H NB đã hướng dẫn lái xe của công ty cổ phần phân bón F chuyển hàng đến Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L. Thực tế hàng của công ty cổ phần phân bón F đang nằm tại kho của Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L, mặc dù giữa Công ty F và công ty dịch vụ Thương Mại Th L không hề có bất kỳ giao dịch nào với nhau.
Vậy công ty cổ phần phân bón F khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hậu L, tỉnh ThA Hóa, buộc Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L phải trả lại Công ty cổ phần phân bón F toàn bộ hàng hóa gồm 600 bao kaly Lào tương đương số lượng 30 tấn có trị giá 199.500.000 đ (Một trăm Ch mươi Ch triệu năm trăm ngàn đồng).
2. Theo bị đơn ông Trịnh Văn T trình bày:
Sự việc trong thời gian từ tháng 7/2017 đến ngày 16/03/2017 công ty K Ch – F nhờ tôi thuê xe bốc hàng từ công ty phân bón V H Ninh Bình đi công ty K Ch - F nhờ tôi mua cho công ty K Ch 60 tấn ka ly đến nay chưa thA toán cho tôi. Đến ngày 22/9/2019, công ty K Ch – F kéo cho tôi 30 tấn kaly, tôi đối trừ công nợ trước đến nay công ty K Ch còn nợ lại tôi 191.740.000đ. Nay công ty F khởi kiện đến Tòa án cho rằng công ty tôi đang giữ số hàng là 30 tấn kaly Lào và yêu cầu công ty tôi trả số tiền là 199.500.000đ thì quan điểm của tôi không chấp nhận trả lại số tiền trên, tôi thừa nhận phía công ty Th L có nhận số hàng là 30 tấn kaly từ lái xe tên Phạm Văn Ch nhưng đó là lô hàng của công ty K Ch, Ch tôi là người ký nhận số hàng trên nhưng sau khi đối trừ 30 tấn kaly mà công ty K Ch F còn nợ tôi thì số tiền công ty K Ch còn nợ lại tôi là 191.740.000đ . Tôi đề nghị Tòa án đưa bà Nguyễn Thị Ch là giám đốc công ty K Ch và bà Nguyễn Thị An là kế toán của công ty K Ch ở địa chỉ khu Tiền Trung, phường Ái Quốc, Th phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương vào tham gia tố tụng. Nếu công ty K Ch F không đồng ý đối trừ công nợ với công ty tôi thì tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
3. Quan điểm của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty cổ phần kinh doA phân bón V H NB:
Theo ông Đỗ V A – Giám đốc Công ty cổ phần kinh doA phân bón V H NB cho biết: Công ty V H NB không ký Hợp đồng mua bán số 170919/HĐMB/FS-VHNB ngày 17/9/2019 với công ty cổ phần phân bón F. Công ty V H NB không hướng dẫn cho lái xe của Công ty F chở hàng đến nhập tại kho Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L. Vì Công ty V H NB không ký hợp đồng với Công ty F nên không có chữ ký của người đại diện theo pháp luật Công ty V H NB. Vì vậy Công ty V H NB không liên quan đến việc Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L giữ số hàng 600 bao kaly của F. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
+Công ty cổ phần K Ch:
Ngày 16/4/2021, bà Nguyễn Thị Ch là giám đốc Công ty cổ phần K Ch có bản tự khai gửi đến Tòa án nhân dân huyện Hậu L, nêu quan điểm như sau: Công ty cổ phần K Ch và Công ty cổ phần phân bón F là hai pháp nhân độc lập. Ngày 22/9/2019 Công ty cổ phần K Ch không thuê lái xe nào tên Phạm Văn Ch chở 600 bao kaly cho Công ty TNHH dịch vụ thương mai Th L và cũng không có bất kỳ giao dịch nào với Công ty Th L.
+ Quan điểm của bà Nguyễn Thị An:
Mối quan hệ giữa Công ty F và Công ty V H NB là đối tác làm ăn đã nhiều năm, ngày 22/9/2019 Công ty F đã thuê lái xe Phạm Văn Ch chở hàng cho Công ty V H NB, Công ty V H NB đã nhờ ông Trịnh Văn T chỉ đường cho lái xe chở hàng đến kho của Công ty Th L (do ông T làm giám đốc) khi phát hiện việc giao nhầm hàng Công ty F đã yêu cầu Công ty Th L trả lại số hàng, nhưng Công ty Th L không trả, nên bà An đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc Công ty Th L trả lại toàn bộ số hàng cho Công ty F.
4.Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hậu L, tỉnh Thanh Hóa, buộc Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L phải trả lại Công ty cổ phần phân bón F toàn bộ hàng hóa gồm 600 bao kaly Lào tương đương số lượng 30 tấn có trị giá 199.500.000 đ (Một trăm Ch mươi Ch triệu năm trăm ngàn đồng). Nếu Công ty Th L vẫn cương quyết không chịu trả thì tôi đề nghị Tòa án xem xét, chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hậu Lộc để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Công ty Th L về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định của Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự được trA luận tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Hậu L nhận định.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: TrA chấp về việc“Đòi lại tài sản” giữa Công ty cổ phần phân bón F với Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L là trA chấp dân sự, bị đơn có địa chỉ tại xã Th L, huyện Hậu L, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hậu L, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng như thông báo thụ lý vụ án. Thông báo phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc ông Phạm Ngọc Th có giấy ủy quyền cho bà Lưu Thị H tham gia tố tụng để giải quyết yêu cầu của nguyên đơn tại Tòa án, có xác nhận của của cơ quan Công chứng như vậy là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật, nên được HĐXX chấp nhận. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với lái xe Phạm Văn Ch nhưng ông Ch không đến Tòa án để làm việc, theo kết quả xác minh thì hiện tại ông Ch không có mặt tại địa phương. Quá trình giải quyết hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 22/9/2019 Công ty cổ phần phân bón F có thuê lái xe Phạm Văn Ch chở 600 bao kaly Lào tương đương 30 tấn cho Công ty cổ phần kinh doA phân bón V H NB có kho tại Trung ThA, Sơn Hà, Nho Quan, Ninh Bình. Tuy nhiên quá trình giao hàng Công ty cổ phần kinh doA phân bón V H NB đã hướng dẫn lái xe của Công ty F chuyển toàn bộ số hàng trên đến kho của Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L, mặc dù Công ty F đã yêu cầu Công ty dịch vụ Thương Mại Th L trả lại số hàng trên nhưng Công ty Th L vẫn không trả. Vì vậy Công ty F làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hậu L, tỉnh ThA Hóa, buộc Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L phải trả lại cho Công ty cổ phần phân bón F toàn bộ hàng gồm 600 bao kaly Lào tương đương số lượng 30 tấn có trị giá 199.500.000 đ (Một trăm Ch mươi Ch triệu năm trăm ngàn đồng).
Quá trình giải quyết vụ án ông Trịnh Văn T là giám đốc Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L thừa nhận có nhận số hàng là 600 bao kaly Lào 30 tấn, từ lái xe Phạm Văn Ch, nhưng số hàng này là ông nhận của công ty K Ch do bà Nguyễn Thị Ch là giám đốc để đối trừ công nợ giữa Công ty dịch vụ Thương Mại Th L và Công ty K Ch. Nay Công ty F khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Th L trả số hàng là 30 tấn kaly Lào trị giá Th tiền là 199.500.000đ cho Công ty F, quan điểm của ông T không chấp nhận, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với Hợp đồng mua bán số 170919/HĐMB/FS-VHNB ngày 17/9/2019, không có chữ ký của đại diện Công ty V H NB, người đại diện của V H NB cho biết. V H NB không có ký kết mua bán gì với Công ty F và cũng không chỉ dẫn cho lái xe Phạm Văn Ch chở hàng của Công ty F nhập vào kho của Công ty dịch vụ thương mại Th L. Người đại diện của Công ty F khẳng định giữa Công ty F và Công ty V H NB là đối tác làm ăn đã nhiều năm, nên các lần ký hợp đồng hai bên thực hiện bằng việc gửi qua email cho nhau trước, còn việc ký vào hợp đồng là khi trực tiếp nhận hàng. Nhưng do Viêt H NB dẫn dắt xe hàng của F nhập tại kho hàng của Công ty Th L, nên không có chữ ký của V H NB mà chỉ có phiếu nhập kho và xác nhận đã nhận hàng của Công ty TNHH ThA L, do ông T làm Giám đốc và thực tế số hàng 600 bao kaly tương đương với 30 tấn kaly của Công ty F đang nằm trong kho của Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L. Vì vậy Công ty F yêu cầu Công ty Th L phải trả lại cho F số hàng trên.
Ngày 16/4/2021, bà Nguyễn Thị Ch làm giám đốc Công ty cổ phần K Ch có bản tự khai gửi đến Tòa án nhân dân huyện Hậu L, nêu quan điểm: Công ty cổ phần K Ch và Công ty cổ phần phân bón F là hai pháp nhân khác nhau. Ngày 22/9/2019 Công ty cổ phần K Ch không thuê lái xe nào tên Phạm Văn Ch chở 600 bao kaly cho Công ty TNHH dịch vụ thương mai Th L và cũng không có bất kỳ giao dịch nào với Công ty Th L.
Trên cơ sở tài liệu chứng cứ chứng minh nguồn gốc số hàng mà Công ty F nhập vào, giấy nhận hàng của Công ty Th L đã ký nhận đã nhân 30 tấn kaly, về chủng loại và số lượng hàng, thời gian và địa điểm là hoàn toàn phù hợp. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định số hàng 600 bao kaly tương đương với 30 tấn kaly của Công ty F đang nằm trong kho của cho Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L mà ông Phạm Văn T đã ký nhận. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần phân bón F, buộc Công ty TNHH dịch vụ thương mai Th L, trả lại số hàng là 600 bao kaly tương đương với 30 tấn, có trị giá 199.500.000 đ (Một trăm Chín mươi Chín triệu năm trăm ngàn đồng). là hoàn toàn phù hợp đúng quy định của pháp luật.
Đối với đề nghị của bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích pháp luật về yêu cầu phản tố nhưng bị đơn không thực hiện theo quy định của pháp luật, do vậy phần nội dung này bị đơn có thể khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Buộc Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L phải nộp án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Công ty cổ phần phân bón F tiền tạm ứng án phí mà Công ty F đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
*Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 166; khoản 1 Điều 579; khoản 1 Điều 580 Bộ luật dân sự.
Điểm b khoản 1 Điều 24; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
*Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần phân bón F.
*Buộc Công ty TNHH dịch vụ thương mai Th L phải trả cho Công ty cổ phần phân bón F 600 bao kaly tương đương với 30 tấn, có trị giá 199.500.000 đ (Một trăm chín mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng).
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án Dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Về án phí: Buộc Công ty TNHH dịch vụ thương mại Th L phải nộp 9.975.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty cổ phần phân bón F số tiền 4.975.000đ tạm ứng án phí mà Công ty F đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0007833 ngày 31/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu L.
* Về quyền kháng cáo: Đại diện nguyên đơn, đại diện bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc) ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận - VKSND huyện Hậu L; - VKSND tỉnh ThA Hóa; - Các đương sự; - Chi cục THA huyện; - Tòa án ND tỉnh ThA Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Xuân Chuyên |