- Tranh chấp gì? án dân sự — "Công ty CPTM Ia Grai - Thanh, Hóa"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/DS-ST Ngày: 15/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Vũ;
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Như Quang;
2. Bà Nguyễn Thị Mý.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Hợp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2022/TLST - DS ngày 11 tháng 02 năm 2022 về việc: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST – DS ngày 18 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T.
Địa chỉ: Đường H, thị trấn I, huyện G, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Văn Đ. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc.
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn I, huyện G, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Th và bà Trần Thị H.
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện G, tỉnh Gia Lai. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, Ông Mai Văn Đ là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2018, giữa Công ty Cổ phần T và Ông Trần Th, bà Trần Thị H có thỏa thuận về việc mua bán phân bón. Theo đó, Công ty đã đồng ý bán nợ phân bón cho ông Th, bà H nhiều lần. Đến ngày 30 tháng 12 năm 2018, giữa Công ty và ông Th, bà H đã tiến hành đối chiếu công nợ, tổng số tiền ông Th và bà H nợ Công ty là 27.255.033 đồng. Ông Th và bà H xin khất nợ đến ngày 20/12/2019 sẽ thanh toán cho Công ty nhưng đã không thực hiện việc trả nợ. Do đó, Công ty Cổ phần T khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Ông Trần Th và bà Trần Thị H phải trả cho Công ty số tiền 27.255.033 đồng.
2. Ý kiến của bị đơn: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhiều lần không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và 228 để giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn là Công ty Cổ phần T khởi kiện yêu cầu bị đơn là Ông Trần Th và bà Trần Thị H phải thanh toán tiền nợ từ việc mua bán phân bón cho nguyên đơn nên thuộc quan hệ tranh chấp“Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Thôn T, xã H, huyện G, tỉnh Gia Lai nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai các Văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ lời khai, lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp, Tòa án thu thập, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại “Biên bản xác nhận công nợ” ngày 30/12/2018 giữa Công ty Cổ phần T và Ông Trần Th, bà Trần Thị H; “Đơn xin khất nợ” của Ông Trần Th ghi tháng 02/2019, thể hiện việc ông Th và bà H xác nhận nợ với nguyên đơn số tiền 27.255.033 đồng. Thời hạn thanh toán theo thỏa thuận đến hết ngày 30/12/2018 nhưng đến thời hạn nêu trên, bên có nghĩa vụ là ông Th, bà H không trả được nợ nên Công ty đã đồng ý cho ông Th, bà H khất nợ đến ngày 20/12/2019 phải trả toàn bộ số tiền nêu trên.
Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ, bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn theo thời hạn đã thỏa thuận. Theo kết quả xác minh của Tòa án, hiện tại ông Th và bà H không còn cư trú tại địa chỉ đã cung cấp cho nguyên đơn khi giao dịch mua bán phân bón nhưng không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn, cho thấy bị đơn không có sự thiện chí trong việc tiếp tục thực hiện các cam kết đã thỏa thuận nên xâm phạm đến quyền và lợi ích của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 27.255.033 đồng là có căn cứ quy định tại Điều 280, Điều 351 và Điều 352 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là (5% x 27.255.033đ) 1.362.752 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 351; Điều 352; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Trần Th và bà Trần Thị H phải trả cho Công ty Cổ phần T số tiền 27.255.033 đồng (Hai mươi bảy triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn không trăm ba mươi ba đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Trần Th và bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.362.752 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn bảy trăm năm mươi hai đồng).
Hoàn trả cho Công ty Cổ phần T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 681.376 đồng (Sáu trăm tám mươi mốt ngàn ba trăm bảy mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008469 ngày 10 tháng 02 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4. Về thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND huyện Ia Grai; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hồng Vũ |