vanban.org

Bản án 29/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 16/08/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Hộ ông Hoàng Văn N, bà Nông Th T tiếp tục được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 186m2 thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, tại đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, đã được Ủy an nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BV 345140 ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa bà Chu Thị L và ông Hoàng Văn N"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Đất đai; Điều 103 Luật Đất đai; Điều 104 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/DS-PT
Ngày 16-8-2022
V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lộc Sơn Thái.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuệ;

Ông Hồ Đức Châm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2022/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc Tranh chấp về quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân s sơ thẩm số: 05/2022/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H u L ng, tỉnh Lạng Sơn kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2022/QĐ-PT ngày 26-7-2022, Quyết đ nh hoãn phiên toà phúc thẩm số: 43/2022/QĐ-PT ngày 09-8-2022, Quyết đ nh thay đổi người tiến hành tố tụng số 124/2022/QĐ-CA ngày 15-8-2022 gi a các đương s :

- Nguyên đơn: Bà Chu Th L. Đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Triệu Th Kim L - Luật sư th c hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- đơn: Ông Hoàng Văn N. Đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Tru A. Đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng Tru A: Bà Chu Th L. Đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (theo văn ản ủy quyền ngày 21-11-2021); có mặt.

2. Bà Nông Th T. Đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

3. Ch Hoàng Th N. Đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nông Th T, ch Hoàng Th N: Ông Hoàng Văn N. Đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (theo văn ản ủy quyền ngày 18-11-2021); vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Anh Hoàng Văn T. Đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

5. Ủy an nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn;

Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện H: Ông Hoàng Văn H - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H (theo văn ản ủy quyền số 1928/GUQ-UBND ngày 27-12-2021); vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bà Chu Th L là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân s sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Diện tích đất tranh chấp là 186m2, thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, tại đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, đã được Uỷ an nhân dân (UBND) huyện H u L ng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BV 345140 ngày 30-6-2014, cho hộ đơn ông Hoàng Văn N, bà Nông Th T.

Theo nguyên đơn, nguồn gốc đất tranh chấp của gia đình nhà chồng nguyên đơn ông Hoàng Văn T. Nguyên đơn là vợ thứ hai của ông Hoàng Văn T. Ông Hoàng Văn T kết hôn với vợ đầu à Hoàng Th N và có 02 người con Hoàng Văn Đ, Hoàng Th Thu H. Năm 2002, sau khi ly hôn với à Hoàng Th N, ông Hoàng Văn T kết hôn với nguyên đơn và có 01 người con là Hoàng Tru A.

Bố mẹ chồng nguyên đơn quản lý, sử dụng đất tranh chấp từ trước năm 1969 đến năm 1982 đất thu hồi thì không sử dụng n a. Năm 2002, sau khi kết hôn, chồng nguyên đơn có đưa nguyên đơn đi nhận đất của gia đình để canh tác. Khi chồng nguyên đơn đưa đi nhận đất của gia đình thì UBND xã đang quản lý thửa đất số 270, lúc đó diện tích đất tranh chấp chưa được cấp GCNQSDĐ. Do đất có nguồn gốc của gia đình nên vào ngày 17 tháng 5 năm 2007, dòng họ họp tại nhà nguyên đơn và lập Biên ản họp dòng họ Hoàng về việc phân chia tài sản, đất đai, tuy iên ản không có xác nhận của chính quyền nhưng nội dung iên ản thống nhất phân chia các tài sản, trong đó có mảnh đất trên giếng nhà M ở Đ, mảnh đất này ao gồm diện tích đang tranh chấp với hộ ông N. Khi còn sống mẹ chồng nguyên đơn cụ Hoàng Th T (chết năm 2016) kể lại, thửa đất tranh chấp số 270, từ năm 1982 hợp tác xã quy hoạch làm đường cho trâu đi (chỉ thông áo qua loa phát thanh, sau khi hợp tác xã giải thể thì đất do UBND xã quản lý), nên từ năm 1982 đến năm 2009 gia đình nhà chồng nguyên đơn không canh tác gì.

Đến năm 2010, xã trả lại đất cho các hộ dân để canh tác và làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, tuy nhiên trưởng thôn không thông áo cho iết vì tại thời điểm này nguyên đơn đang tranh chấp đất với à Hoàng Th N, trong đó có thửa đất hiện nay đang tranh chấp với đơn, nên nguyên đơn không đi kê khai cấp GCNQSDĐ và do hiểu iết pháp luật còn hạn chế của nguyên đơn nên có nhận thức chưa được cấp GCNQSDĐ thì chưa được sử dụng đất.

Đến năm 2018, nguyên đơn làm nhà ở khu Đ thì xảy ra tranh chấp thửa đất số 270, thời điểm này nguyên đơn chưa làm đơn gửi đến các cấp chính quyền. Năm 2020, nguyên đơn được UBND xã thông áo gia đình nào có đất chưa được cấp sổ thì lên đăng ký làm thủ tục, đến lúc đó mới iết thửa đất số 270 đã được cấp GCNQSDĐ cho đơn, nguyên đơn cho rằng việc cấp GCNQSDĐ cho đơn là không đúng đối tượng, vì nguồn gốc đất này là của nhà chồng nguyên đơn.

Theo đơn, nguồn gốc thửa đất tranh chấp đơn được vợ chồng anh rể là ông Triệu Văn N, bà Hoàng Th C, tặng cho thửa đất từ năm 1999. Khi tặng cho vợ chồng anh rể chưa được cấp GCNQSDĐ và là anh em trong gia đình nên không lập văn ản về việc tặng cho. Tại thời điểm được tặng cho, thửa đất có độ dốc cao nên khi nhận đất đơn chưa canh tác ngay được, phải mất khoảng a đến ốn năm để san gạt lại thửa đất cho ằng phẳng, thành ruộng như ây giờ thì mới canh tác được. B đơn ắt đầu canh tác trồng lúa từ khoảng năm 2003 cho đến nay. Tuy nhiên, do không có mương nước, hoàn toàn phụ thuộc vào nước mưa nên không canh tác hàng năm được, năm nào thời tiết thuận lợi mưa nhiều thì cấy được 01 vụ lúa, còn năm nào ít mưa thì ỏ không cấy lúa được.

Trong quá trình quản lý, sử dụng thửa đất này từ năm 1999 đến năm 2019, không xảy ra tranh chấp đất với ai, kể cả mẹ ông T và ông T (chồng à L) khi còn sống c ng không có tranh chấp gì, thửa đất này ngay gần đường đi lại, khi đơn canh tác thửa đất này mẹ chồng à L đi qua còn hỏi thăm và c ng không có ý kiến gì về việc gia đình đơn sử dụng đất.

Đến năm 2011, cơ quan chức năng tiến hành đo đạc ản đồ đ a chính xã H, để cấp GCNQSDĐ, đơn làm đơn đề ngh cấp GCNQSDĐ và đến ngày 30-6-2014, hộ gia đình đơn được UBND huyện cấp GCNQSDĐ, đối với thửa đất tranh chấp có diện tích 186m2, thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ 67.

Sau khi được cấp GCNQSDĐ, gia đình đơn vẫn canh tác trên thửa đất này. Năm 2018, nguyên đơn à Chu Th L làm nhà và sinh sống ngay gần đất tranh chấp, và trong hai năm 2018, 2019 gia đình đơn cấy lúa nhưng à L không có ý kiến phản đối gì. Đến năm 2020, à L tranh chấp thửa đất trên với gia đình đơn nên từ đó đến nay đơn không cấy được lúa.

Tại cấp sơ thẩm:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hộ ông Hoàng Văn N trả lại thửa đất số 270, tờ ản đồ 67 và hủy GCNQSDĐ số BV 345140 mang tên hộ ông Hoàng Văn N, do UBND huyện cấp ngày 30/6/2014, diện tích hủy 186m2, thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ 67.

B đơn không chấp nhận toàn ộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, diện tích 186m2, đất đã được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số BV 345140 ngày 30-6-2014, mang tên hộ ông Hoàng Văn N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện H, tỉnh Lạng Sơn trình bày: Về trình t thủ tục cấp GCNQSDĐ số phát hành BV 345140, ngày 30-6-2014, cho hộ ông Hoàng Văn N, bà Nông Th T, đối với thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, được cấp theo d án đo đạc ản đồ đ a chính xã H. Tại thời điểm cấp không có đơn kiến ngh gì về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Hoàng Văn N. Theo ản đồ giải thửa năm 1997, thửa đất số 157, diện tích 20.789m2, thuộc tờ ản đồ số 34, mục đích sử dụng trên ản đồ và ghi trong sổ mục kê là đất hoang, được xác đ nh đối tượng quản lý là UBND xã. Khi đo ản đồ đ a chính năm 2010, thì thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, diện tích 186m2, được hình thành nằm trong thửa đất số 157, tờ ản đồ số 34. Thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, diện tích 186m2, sổ mục kê đất đai xác đ nh đối tượng sử dụng, quản lý có tên trong danh sách là hộ ông Hoàng Văn N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn nhất trí với ý kiến nguyên đơn đã đưa ra ở trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía đơn nhất trí với ý kiến đơn đã đưa ra ở trên.

Ngày 14-01-2022, Tòa án nhân dân huyện H u L ng, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành xem xét, thẩm đ nh tại chỗ xác đ nh như sau: Thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67 có diện tích th c tế sau khi đo đạc là 186m2. Thửa đất có các phía tiếp giáp như sau: Phía Bắc: Giáp tường ao xây của khu mộ dòng họ T xây và thửa 235, tờ ản đồ 67 (đất chưa sử dụng). Phía Đông: Giáp thửa 235, tờ ản đồ 67 (đất chưa sử dụng), trên đất có ngôi nhà của nguyên đơn à Chu Th L. Phía Tây: Giáp ờ ruộng và thửa 269, tờ ản đồ 67. Phía Nam: Giáp thửa 235, tờ ản đồ 67. Trên đất tranh chấp chỉ có một số cây mọc dại t nhiên, không có cây trồng, ngoài ra không còn tài sản nào khác. Giá tr đất theo giá của Hội đồng đ nh giá là 186m2 x 60.000 đồng/m² =11.160.000 đồng.

Bản án dân s sơ thẩm số: 05/2022/DS-ST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân huyện H u L ng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết đ nh: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hộ ông Hoàng Văn N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 186m2 thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, đất đã được Ủy an nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BV 345140, ngày 30 tháng 6 năm 2014, cho hộ ông Hoàng Văn N, bà Nông Th T. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và về quyền kháng cáo và yêu cầu thi hành án dân s theo quy đ nh của pháp luật.

Trong thời hạn luật đ nh, nguyên đơn à Chu Th L kháng cáo Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn ộ ản án dân s sơ thẩm theo hướng hủy toàn ộ Bản án dân s sơ thẩm, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 345140 mang tên hộ gia đình ông Hoàng Văn N, bà Nông Th T, uộc hộ gia đình ông Hoàng Văn N phải trả lại cho à Chu Th L diện tích đất 186m² thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn à Chu Th L gi nguyên nội dung kháng cáo.

Người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, vì đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng nguồn gốc đất không rõ ràng, quá trình quản lý sử dụng đất tranh chấp c ng chỉ có lời trình ày của đơn, do đó không có căn cứ để xem xét đơn được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp, đề ngh xem xét hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện H, tỉnh Lạng Sơn cấp cho hộ ông Hoàng Văn N, trả lại cho nguyên đơn bà Chu Th L diện tích đất 186m² thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn T nhất trí các ý kiến đơn đã trình ày tại cấp sơ thẩm. Đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm gi nguyên ản án dân s sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát iểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:

1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân s ; đương s đã th c hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy đ nh của pháp luật tố tụng dân s .

2. Về việc giải quyết kháng cáo:

Nguyên đơn kháng cáo ản án sơ thẩm trong thời hạn luật đ nh được Tòa án chấp nhận.

Các ên đương s không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất nên căn cứ vào việc sử dụng đất của các ên và các tài liệu quản lý nhà nước về đất đai và để xem xét. Theo nguyên đơn à L từ khi kết hôn với ông T năm 2002 đến nay à không canh tác gì trên đất, gia đình chồng à c ng không canh tác từ năm 1982 đến nay. Phía đơn ông N trình ày quản lý sử dụng đất từ năm 1999 đến nay, nhưng việc canh tác trồng lúa không thường xuyên vì phụ thuộc vào thời tiết, có năm mưa nhiều cấy được 1 vụ, có năm để trống đất điều này phù hợp với lời khai nguyên đơn năm 2018 à L xây nhà gần đất tranh chấp à c ng thừa nhận gia đình ông N cấy lúa năm 2018 và 2019. Thửa 270 gốc là thuộc một phần thửa 157 (diện tích 20.789 m2), tờ ản đồ số 34, ản đồ giải thửa năm 1997, mục đích sử dụng trên ản đồ và ghi trong sổ mục kê là đất hoang do UBND xã H quản lý. Năm 2010 đo đạc ản đồ đ a chính xã H thì thửa 157 có nhiều hộ gia đình sử dụng đã tách thành nhiều thửa theo th c tế sử dụng của các hộ, trong đó hộ ông N đã kê khai phần diện tích đất tranh chấp nay là thửa 270, cùng thời điểm ông c ng kê khai nhiều thửa đất khác, năm 2014 được cấp Giấy CNQSDĐ. Như vậy thời điểm năm 1997 đến khi đo đạc ản đồ đ a chính năm 2010 gia đình chồng à L không có ai đứng tên trên ản đồ và sổ mục kê thể hiện là chủ sử dụng đất, ản thân à L thừa nhận gia đình chồng à từ năm 1982 và à từ khi kết hôn với ông T năm 2002 đến nay không quản lý, canh tác gì trên đất. Về việc kê khai thửa đất để cấp GCNQSDĐ, à L cho rằng à không được thông áo để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ vì khi đó à đang tranh chấp với à Hoàng Th N (vợ trước ông T), tuy nhiên cùng thời điểm ông N kê khai thửa đất trên thì bà L c ng kê khai xin cấp Giấy chứng nhận các thửa 218, 91, 108 trong đ a àn xã H, trong đó có 02 thửa gần đất tranh chấp, tại phiên tòa à c ng thừa nhận thời điểm này à đang tranh chấp với à N 02 đám ruộng ở v trí khác, không phải thửa đất đang tranh chấp, à c ng không có đơn yêu cầu UBND xã H giải quyết tranh chấp thửa đất này, do đó à L cho rằng không được thông áo để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ và đất có tranh chấp là không có cơ sở. Từ nh ng căn cứ trên xác đ nh gia đình ông N đã sử dụng diện tích đất tranh chấp, được Nhà nước xác lập quyền quản lý, sử dụng đất, thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ hộ ông N là người sử dụng đất, được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận. Do đó ản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, kháng cáo của à L yêu cầu hủy ản án sơ thẩm, uộc hộ ông N trả lại diện tích đất, hủy Giấy chứng nhận QSDĐ là không có căn cứ chấp nhận.

Tuy nhiên, trong ản án sơ thẩm có một số thiếu sót như không nêu thông tin đ a chỉ cụ thể thửa đất tranh chấp là không đầy đủ và không ghi quyền được ảo hộ của người sử dụng đất khi xâm phạm, nh ng thiếu sót này Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Như đã nêu trên về nội dung vụ án không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Do đó đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng quy đ nh tại khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân s , không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, gi nguyên Bản án dân s sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 22/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện H u L ng, tỉnh Lạng Sơn. Về án phí phúc thẩm: Bà Loan được miễn án phí dân s phúc thẩm theo quy đ nh điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:[

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Tru A, bà Nông Th T, ch Hoàng Th N, Ủy an nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Phiên tòa phúc thẩm đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đơn vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã có ủy quyền cho người đại diện tham gia phiên tòa, người đại diện vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân s , Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có tên nêu trên.

[2] Đối với kháng cáo của nguyên đơn à Chu Th L về việc không chấp nhận quyết đ nh của ản án sơ thẩm, uộc hộ gia đình ông Hoàng Văn N phải trả lại cho à Chu Th L diện tích đất 186m² thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, thấy rằng:

[3] Xét về quá trình quản lý sử dụng: Căn cứ lời trình ày của nguyên đơn, đơn thể hiện: Từ năm 1982 đến nay (40 năm) gia đình nhà chồng nguyên đơn và nguyên đơn không ai quản lý, sử dụng đất tranh chấp. Từ năm 1982, Hợp tác xã quản lý đất tranh chấp, sau khi Hợp tác xã giải thể đất do UBND xã quản lý. Từ năm 1999 - 2019, nhà đơn quản lý, sử dụng đất tranh chấp, năm 2011 nhà đơn đã đi kê khai xin cấp GCNQSDĐ và năm 2014 được UBND huyện cấp GCNQSDĐ. Đất tranh chấp nằm ở v trí gần đường đi lại, khi gia đình đơn cấy lúa trên đất tranh chấp, mẹ chồng nguyên đơn khi còn sống đi qua có iết nhưng không tranh chấp yêu cầu trả lại thửa đất. Nguyên đơn c ng thừa nhận tại phiên tòa sơ thẩm là đơn cấy lúa trên đất tranh chấp năm 2018, 2019. Như vậy, mặc dù trong thời gian này hộ ông Hoàng Văn N không sử dụng đất tranh chấp liên tục nhưng trong thời gian này, ngoài hộ ông Nhau thì không còn có ai khác sử dụng đất tranh chấp.

[4] Xét lời trình ày của nguyên đơn về việc trưởng thôn không thông áo nên nguyên đơn không iết để đăng ký kê khai cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất tranh chấp là mâu thuẫn, vì trong cùng thời gian này ngày 28/9/2011, nguyên đơn làm đơn đề ngh và đến ngày 31-12-2013 thì được UBND huyện cấp GCNQSDĐ, trong đó có 02 thửa đất tại Đ chỉ cách thửa đất đang tranh chấp khoảng 100m, còn thửa đất số 270 mà nguyên đơn cho rằng đang tranh chấp với vợ c ông Tưởng, thì UBND huyện cấp GCNQSDĐ cho hộ ông N vào ngày 30-6-2014.

[5] Xét Biên ản họp dòng họ H về việc phân chia đất đai ngày 17-5-2007: Nội dung iên ản thể hiện việc phân chia đất chỉ trong nội ộ gia đình, dòng họ, iên ản không được chính quyền chứng kiến, xác nhận, iên ản không ghi rõ số thửa, diện tích, tứ cận v trí của mảnh đất ở Đ, văn ản phân chia không thể xác đ nh được diện tích chia cho à L có liên quan gì đến thửa đất số 270 hay không. Tại thời điểm chia đất năm 2007, trong gia đình nguyên đơn chưa ai được cấp GCNQSDĐ hoặc có tên trong sổ mục kê, sổ đ a chính đối với mảnh đất ở Đ, và tại thời điểm chia đất năm 2007, theo sổ mục kê lập năm 1998, thì đất do UBND xã quản lý còn trên th c tế hộ ông N đang là người sử dụng đất. Do đó, Biên ản phân chia đất ngày 17-5-2007 do nguyên đơn giao nộp không có giá tr chứng minh quyền sử dụng đất tranh chấp là của nguyên đơn.

[6] Xét Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-3-2018 ( ản phô tô) do nguyên đơn nộp và trình ày về giấy chuyển nhượng này là do vợ chồng ông Triệu Văn S, bà Hoàng Th L, chuyển nhượng cho nguyên đơn một diện tích đất khoảng 260m2 ở Đ với giá 5.000.000 đồng, diện tích đất chuyển nhượng này có cả diện tích đất đang tranh chấp với hộ ông N, việc mua án đất không còn giá tr n a vì hai ên thỏa thuận hủy ỏ và ông S đã trả lại tiền cho nguyên đơn. Lời trình ày về Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-3-2018 hoàn toàn mâu thuẫn với các trình ày trước đó của nguyên đơn về nguồn gốc đất, việc năm 2002 chồng nguyên đơn đưa đi nhận đất của gia đình để canh tác, về việc phân chia đất theo iên ản ngày 17-5-2007.

[7] Trình t thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Hoàng Văn N, bà Nông Th T: Tại thời điểm cấp không có đơn kiến ngh gì về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Hoàng Văn N. Theo ản đồ giải thửa năm 1997, thửa đất số 157, diện tích 20.789m2, thuộc tờ ản đồ số 34, mục đích sử dụng trên ản đồ và ghi trong sổ mục kê là đất hoang, được xác đ nh đối tượng quản lý là UBND xã. Khi đo ản đồ đ a chính năm 2010, thì thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, diện tích 186m2, được hình thành nằm trong thửa đất số 157, tờ ản đồ số 34. Thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, diện tích 186m2, sổ mục kê đất đai xác đ nh đối tượng sử dụng, quản lý là hộ ông Hoàng Văn N. Do vậy, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với các quy đ nh của pháp luật. Bà Chu Th L phải chấm dứt hành vi tranh chấp đối với diện tích đất tranh chấp là 186m2 thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, tại đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì mới nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo.

[8] Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên hộ ông Hoàng Văn N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 186m2 thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, đất đã được UBND huyện H, tỉnh Lạng Sơn, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tứ cận cụ thể của thửa đất nhưng không tuyên cụ thể đ a danh, đ a điểm của thửa đất tranh chấp giao cho đơn được quyền quản lý, sử dụng; không tuyên uộc nguyên đơn phải chấm dứt hành vi tranh chấp đối với diện tích đất tranh chấp là không toàn diện, không đảm ảo để thi hành án. Vì vậy, cấp phúc thẩm phải sửa ản án sơ thẩm đối với nội dung trên.

[9] Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải ch u tiền án phí dân s phúc thẩm.

[10] Xét đề ngh của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ pháp lý và phù hợp với các quy đ nh của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân s năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn à Chu Th L; sửa Bản án dân s sơ thẩm số: 05/2022/DS-ST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân huyện H u L ng, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:

Căn cứ Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 103, Điều 104, Điều 105 của Luật Đất đai 2003; khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai 2013. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 167; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 229; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân s . Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Hộ ông Hoàng Văn N, bà Nông Th T tiếp tục được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 186m2 thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, tại đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, đã được Ủy an nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BV 345140 ngày 30-6-2014 cho hộ ông Hoàng Văn N, bà Nông Th T, tứ cận cụ thể như sau:

Phía Đông giáp thửa đất số 235 (Có v trí đỉnh thửa: C3, C4, C5, C6, C7); Phía Tây giáp thửa số 269 (Có v trí đỉnh thửa: C1, C12, C11, C10, C9); Phía Nam giáp thửa đất số 235 (Có v trí đỉnh thửa: C7, C8, C9); Phía Bắc giáp thửa đất số 235 (Có v trí đỉnh thửa: C1, C2, C3). (Chi tiết cụ thể có sơ họa trích đo kèm theo)

Buộc bà Chu Th L chấm dứt hành vi tranh chấp đối với diện tích đất tranh chấp 186m2 thuộc thửa đất số 270, tờ ản đồ số 67, tại đ a chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Chu Th L phải ch u toàn ộ chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản, với tổng số tiền 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Xác nhận à Chu Th L đã nộp đủ số tiền này.

3. Về án phí: Bà Chu Th L được miễn án phí dân s sơ thẩm và không phải ch u án phí dân s phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án dân s được th c hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .

Bản án phúc thẩm có hiệu l c kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ