vanban.org

Bản án 29/2022/DS-PT — Dân sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 25/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C về việc buộc ông Lê Cảnh P phải trả số tiền 270.

Về án phí: Bà Trần Thị C phải chịu 13.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 6.750.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0000033 ngày 22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Trần Thị C - Lê Cảnh P"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C về việc buộc ông Lê Cảnh P phải trả số tiền 270.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:29/2022/DS-PT
Ngày 25/9/2022
“V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hà;

Thẩm phán:

Ông Đinh Viết Nam;

Bà Đoàn Thị Kim Thương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 27/2022/TLPT-DS ngày 30 tháng 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXPT-DS ngày 09 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Cảnh P, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện P, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày:

Ông P là người cung cấp thức ăn chăn nuôi lợn cho trang trại chăn nuôi của bà C nên bà C có đặt vấn đề với ông P về việc cần mua giống lợn để nuôi. Ông P nhận lời và đồng ý cung ứng lợn giống cho bà C với giá 3.700.000 đồng/con, bà C chuyển trước cho ông P 85% số tiền mua lợn giống. Còn 15% số tiền còn lại sẽ thanh toán sau khi nhận hàng 05 ngày. Ông P và bà C thỏa thuận bằng lời nói, không thỏa thuận bằng văn bản. Ngày 31/3/2020, bà C chuyển số tiền 270.000.000đồng vào tài khoản số 0771000600306 Ngân hàng Vietcombank Quảng Trị cho ông P để mua lợn giống. Ngày 02/4/2020, ông P vận chuyển lợn giống và giao cho bà C số lượng 100 con (lợn giống không rõ nguồn gốc). Ngày 03/4/2020 số lợn giống bắt đầu chết, bà C báo cho ông P cùng cơ quan thú y địa phương biết và tiêu hủy toàn bộ số lợn giống ông P giao cho bà C. Theo kết quả xét nghiệm của Cục thú y vùng III ngày 07/4/2020 thì phát hiện virut gây bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

Việc cung ứng lợn giống bị nhiễm bệnh của ông P đã gây thiệt hại cho bà C số tiền 270.000.000đồng. Nguồn bệnh từ lợn giống ông P cung cấp đã lây nhiễm sang số lợn trong trang trại của bà C nên lợn trong trang trại của bà C chết dần và buộc phải tiêu hủy toàn bộ số lợn đang nuôi trị giá là 300.000.000 đồng. Ngoài ra, bà C đã chuyển cho ông P số tiền mua lợn giống là số tiền vay ngân hàng, bà C phải trả lãi hàng tháng là 0,9%. Ngày 21/5/2020, bà C đã trình báo với Công an huyện C và tại Công an huyện C, ông P đã thừa nhận khi mua lợn giống đưa về trang trại của bà C, ông P không kiểm tra đầy đủ giấy tờ về nguồn gốc, chất lượng. Hậu quả lợn bị chết thì ông P cũng có trách nhiệm và chịu một phần hậu quả xảy ra. Sau nhiều lần bà C trao đổi với ông P khắc phục thiệt hại, nhưng ông P chỉ hứa và không thực hiện nên bà C khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lê Cảnh P phải trả lại cho bà C số tiền 270.000.000 đồng mà bà C đã chuyển cho ông P để mua lợn giống.

Bị đơn ông Lê Cảnh P trình bày:

Bà C có đặt vấn đề với ông P cung cấp lợn giống cho bà C thì bà C đồng ý lấy thức ăn cho ông P. Sau đó ông P lên mạng xã hội Facebook thì thấy có một người tên là Phan Văn V (tôi không biết địa chỉ cụ thể) rao bán lợn giống nên ông P đã giới thiệu cho bà C và cho số điện thoại của anh V. Sau khi ông P làm việc với anh V về giá cả thì ông P báo lại với bà C và gửi báo giá cho bà C xem thì bà C đồng ý. Trước khi bắt lợn giống, phía anh V yêu cầu giao trước 70% số tiền lợn giống, sau khi đưa lợn về đến nhà 05 ngày thì chuyển tiền cho anh V, bà C đồng ý. Ông P cũng đã bảo với bà C là nên cho người đến xem lợn trực tiếp, nếu lợn giống khỏe mạnh thì bắt, nhưng bà C không cử người đi xem lợn giống nên ông P cũng không đi. Bà C đồng ý chuyển tiền vào tài khoản của ông P để ông P có trách nhiệm. Khi nhận được tiền của bà C, ông P chuyển lại cho anh V. Sau khi đưa lợn giống về nhà bà C thì ông P đã giao giấy chứng nhận kiểm dịch cho cháu bà C, nhưng cháu bà C đã đưa giấy kiểm định lại cho nhà xe. Đến sáng hôm sau thì đàn lợn bắt đầu chết dần, ông P có lên kiểm tra và nghi ngờ lợn bị bệnh dịch tả châu phi và gọi cho bên thú y đến lấy mẫu kiểm tra. Ông P cho rằng mình không có lỗi trong việc lợn chết nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 27/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện P quyết định xử:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430; Điều 440; Điều 441 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C về việc buộc ông Lê Cảnh P phải trả số tiền 270.000.000 đồng đã mua lợn giống.

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10/8/2022, nguyên đơn bà Trần Thị C kháng cáo với nội dung như sau:

- Việc bà C và ông P thỏa thuận hợp đồng bằng miệng là bà C mua lợn giống đẹp, khỏe mạnh của ông P là một hình thức hợp đồng được pháp luật công nhận tại Điều 119 BLDS.

- Ông P cung cấp giống lợn bị bệnh dịch tả lợn Châu Phi thì ông P là người có lỗi, vi phạm thỏa thuận của hợp đồng. Khi nhập lợn giống về, ông P không trực tiếp đưa cho bà C giấy kiểm dịch mà người lái xe chở lợn giống cầm. Mới đây họ yêu cầu chuộc 30.000.000đồng mới giao giấy kiểm định. Tại Công an huyện C ông P đã nhận sai sót và đồng ý trả tiền lợn giống cho bà C nên bà C đề nghị giải quyết dân sự.

- Việc ông P cho rằng ông Vương là người bán giống lợn cho ông P hứa trả tiền cho ông P để trả lại cho bà C, nhưng bà C liên lạc với ông Vương thì ông ông Vương trả lời chỉ bán lợn giống cho ông P nên ông P có trách nhiệm trả tiền. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 441 BLDS giải quyết vụ án là không chính xác vì việc lợn chết là có thật, gây thiệt hại cho gia đình bà C.

- Đề nghị Tòa án triệu tập người bán lợn giống cho ông P để đối chất làm rõ.

Vì vậy, bà C đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C và buộc ông P phải hoàn trả cho bà C số tiền 270.000.000đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật TTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Trần Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Cảnh P phải trả số tiền 270.000.000 đồng do ông P bán 100 con lợn giống cho bà C bị chết do dịch tả Châu Phi. Căn cứ khoản 3 Điều 26 BLTTDS, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” là đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị C, Hội đồng xét xử thấy:

Thực tế bà C có đặt vấn đề nhờ ông P mua lợn giống và bà C sẽ mua thức ăn chăn nuôi cho ông P và ông P đồng ý. Sau đó giữa bà C có thỏa thuận bằng miệng với ông P về việc mua hộ lợn giống với nội dung: Ông P mua hộ lợn giống cho bà C với giá 3.700.000 đồng/con, bà C chuyển trước cho ông P 85% số tiền mua lợn giống, 15% số tiền còn lại sẽ thanh toán sau khi nhận hàng 05 ngày. Thực hiện thỏa thuận trên, ngày 31/3/2020, bà C chuyển số tiền 270.000.000đồng vào tài khoản số 0771000600306 Ngân hàng Vietcombank Quảng Trị cho ông P để ông P chuyển tiền cho người bán lợn giống. Ngày 02/4/2020, xe vận chuyển lợn giống đến giao cho bà C số lượng 100 con. Ngày 03/4/2020 số lợn giống và số lợn trong trang trại của bà C chết dần. Bà C báo cho ông P cùng cơ quan thú y địa phương. Ngày 07/4/2020, Cục thú y vùng III tiến hành xét nghiệm kết luận nguyên nhân lợn chết do virut gây bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà C thừa nhận có lỗi chủ quan trong việc mua lợn giống. Bà C thỏa thuận bằng miệng nhờ ông P mua lợn giống, nhưng các bên không thỏa thuận quyền và nghĩa vụ phát sinh nếu vi phạm hợp đồng. Thực tế 100 con lợn giống chết do dịch tả lợn Châu Phi không xác định được nguyên nhân lây bệnh từ đàn lợn giống nhập về hay từ trang trại lợn của bà C. Bà C là người mua lợn giống về nuôi, nhưng không tuân thủ điều kiện về chăn nuôi và phòng chống dịch bệnh, không thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại xảy ra. Vì vậy, không có cơ sở xác định ông P là người có lỗi khi mua 100 con lợn giống bị dịch tả lợn Châu Phi gây thiệt hại cho bà C. Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc buộc ông Lê Cảnh P phải trả lại cho bà Trần Thị C số tiền 270.000.000 đồng là có cơ sở.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp thuận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C và không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị C nên bà C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000đồng, nhưng được trừ số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000226 ngày 15/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430; Điều 440; Điều 441 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án, tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C về việc buộc ông Lê Cảnh P phải trả số tiền 270.000.000 đồng.

Về án phí: Bà Trần Thị C phải chịu 13.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 6.750.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0000033 ngày 22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Quảng Trị và số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0000226 ngày 15/8/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Quảng Trị. Bà Trần Thị C còn phải nộp 6.750.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ