- Tranh chấp gì? Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? 39, Điều 147, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/KDTM – ST Ngày: 01/07/2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Ngọc Tiến
Bà Đàm Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận
10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 07 năm 2021 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2021/TLST-KDTM ngày
15/01/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2021/QĐXXST-KDTM ngày
12 tháng 05 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên toà số: 54/2021/QĐST-KDTM
ngày 03 tháng 06 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X
Địa chỉ trụ sở chính: Số 72 đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Địa chỉ chi nhánh: Số 10 đường D, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm: 1986, là người
đại diện theo ủy quyền (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) (Giấy ủy quyền số:
27/2021/EIB/UQ-TGĐ ngày 24/02/2021).
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Cơ khí – Xây
dựng T
Địa chỉ trụ sở chính: số 436B/42/12 đường G, Phường H, Quận I, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Đức T, sinh năm: 1968 – Chủ tịch Hội
đồng thành viên, là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
Địa chỉ: số 436B/42/12 đường G, Phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 25/12/2020 và quá trình giải quyết vụ án,
đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân H trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần X - Chi nhánh Bình Tân có cho Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Cơ khí – Xây dựng T vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017, giải ngân theo Khế ước số 2103-LDS-201701987 năm 2017 ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần X - Chi nhánh Bình Tân và Công ty T. Số tiền vay là 770.000.000 đồng, mục đích vay là để mua xe, thời hạn vay 60 tháng từ ngày 25/09/2017 đến ngày 25/09/2022, trả nợ vốn và lãi định kỳ hàng tháng vào ngày 25 dương lịch. Lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 8%/năm (lãi suất công bố tại thời điểm giải ngân), áp dụng trong 12 tháng đầu tiên. Kể từ tháng thứ 13 trở đi, lãi suất điều chỉnh 03 tháng/lần bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm 13 tháng do Ngân hàng Thương mại cổ phần X công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty T theo Hợp đồng tín dụng số
2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017 là một xe ô tô nhãn hiệu: HONDA; số loại CRV; Biển số: 51G-492.51; Số khung: 385XHY723140; Số máy: K24Z99104284 (có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 302667 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/09/2017) thuộc sở hữu của Công ty TNHH Thương mại - Cơ khí - Xây dựng T đã thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X - Chi nhánh Bình Tân theo Hợp đồng thế chấp số 234/2017/EIB-BT/DN/TC ngày 25/09/2017; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 21/11/2017 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 234/2017/EIB-BT/DN/TC (lần 1) ngày 27/09/2017.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty T đã
không thực hiện đúng thời hạn thanh toán dẫn đến phát sinh nợ quá hạn từ tháng 06/2020. Ngân hàng Thương mại cổ phần X đã nhiều lần nhắc nợ nhưng Công ty T vẫn chưa giải quyết khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X. Tính đến ngày 06/05/2021, Công ty T còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần X tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017 như sau:
Nợ gốc
: 304.300.000 đồng
Lãi trong hạn
: 37.512.354 đồng
Lãi quá hạn
: 7.107.185 đồng
Tổng cộng:
: 348.919.539 đồng
Ngân hàng Thương mại cổ phần X đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty T phải hoàn trả toàn bộ số nợ gốc và lãi còn lại của Hợp
đồng tín dụng số 2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017 tính đến ngày
06/05/2021 là 348.919.539 đồng. Tiền lãi tiếp tục được tính theo mức lãi suất
thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi Công ty T trả xong nợ.
- Trường hợp Công ty T không trả nợ, trả nợ không đủ thì phát mãi tài sản
thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu: Honda, số loại CRV, biển số: 51G-492.51, số
khung: 385XHY723140, số máy: K24Z99104284 thuộc sở hữu của Công ty T
để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X. Nếu giá trị tài sản bảo đảm
không thu hồi đủ nợ thì Công ty T tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi
xong nợ.
* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt
cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Cơ khí – Xây dựng T (tại địa
chỉ trụ sở chính công ty cũng là địa chỉ của người đại diện theo pháp luật công
ty) các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo hòa
giải theo qui định tại các Điều 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đại
diện Công ty T không đến làm việc và hòa giải. Ngày 07/05/2021, Tòa án lập
biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do đại diện Công ty T vắng mặt
dù đã được triệu tập hợp lệ, đồng thời đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị
không tiến hành hòa giải.
* Tại phiên tòa:
Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt không có lý do.
Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án.
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, đại diện nguyên đơn nộp thêm
bản khai bổ sung: Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 04/06/2021 Công ty T
có trả thêm một phần tiền nợ gốc và một phần tiền lãi nên tính đến ngày xét xử
sơ thẩm là ngày 01/07/2021, Công ty T còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần
X tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700900 ngày
25/09/2017 như sau:
Nợ gốc
: 202.398.490 đồng
Lãi trong hạn
: 2.773.773 đồng
Lãi quá hạn
: 235.504 đồng
Tổng cộng:
: 205.407.767 đồng
(bảng tính lãi chi tiết ngày 28/6/2021)
Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa
hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy
trình tố tụng giải quyết vụ án.
Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia các buổi làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là đã tự từ bỏ quyền trình bày và cung cấp chứng cứ của mình.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên
đơn, nhận thấy Ngân hàng Thương mại cổ phần X - Chi nhánh Bình Tân có cho Công ty T vay số tiền 770.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017. Tháng 06/2020, Công ty T không thanh toán được nợ vay đúng hạn và chuyển thành nợ quá hạn. Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần X yêu cầu Công ty T thanh toán ngay số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Tòa án căn cứ vào hợp đồng tín dụng để tính tiền lãi cho phù hợp với sự thỏa thuận của hai bên.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương
mại cổ phần X, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có trụ sở tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã
được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Ngân hàng Thương mại cổ phần X - Chi nhánh Bình Tân có cho Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Cơ khí – Xây dựng T vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017, giải ngân theo Khế ước số 2103-LDS-201701987 năm 2017. Số tiền vay là 770.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty T đã không thực
hiện đúng thời hạn thanh toán dẫn đến phát sinh nợ quá hạn từ tháng 06/2020. Công ty T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại Hợp đồng tín dụng. Ngày 04/06/2021 Công ty T có trả thêm một phần khoản nợ gốc và một phần tiền lãi.
Tiền lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng như sau:
Lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 8%/năm, áp dụng trong 12 tháng
đầu tiên. Kể từ tháng thứ 13 trở đi, lãi suất điều chỉnh 03 tháng/lần bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm 13 tháng do Ngân hàng Thương mại cổ phần X công bố tại thời điểm điều chỉnh + 3,5%/năm.
Mức lãi theo thỏa thuận của các bên nêu trên là phù hợp với quy định tại
Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Ngân hàng Thương mại cổ phần X
đã tính tiền lãi đúng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng thể hiện
tại bảng tính tiền nợ gốc và tiền lãi ngày 28/6/2021 do Ngân hàng Thương mại
cổ phần X nộp cụ thể như sau:
+ Dư nợ gốc:
202.398.490 đồng.
+ Lãi vay trong hạn: 2.773.773 đồng.
+ Lãi vay quá hạn:
235.504 đồng.
Tổng cộng:
205.407.767 đồng.
Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần X yêu cầu Công ty T thanh toán
ngay số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 01/07/2021,
tổng số tiền là 205.407.767 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty T theo Hợp đồng tín dụng số
2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017 là một xe ô tô nhãn hiệu: HONDA; số
loại CRV; Biển số: 51G-492.51; Số khung: 385XHY723140; Số máy:
K24Z99104284 (có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 302667 do Phòng Cảnh
sát giao thông - Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/09/2017) thuộc
quyền sở hữu của Công ty TNHH Thương mại - Cơ khí - Xây dựng T đã thế
chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X - Chi nhánh Bình Tân theo Hợp
đồng thế chấp số 234/2017/EIB-BT/DN/TC ngày 25/09/2017 và Biên bản sửa
đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 234/2017/EIB-BT/DN/TC (lần 1) ngày
27/09/2017; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 21/11/2017 tại Trung tâm đăng ký
giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thủ tục thế chấp và đăng ký giao
dịch bảo đảm đúng quy định pháp luật. Do đó, trường hợp Công ty T không thực
hiện đúng thời hạn trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu
cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu
hồi nợ.
Nếu giá trị tài sản phát mãi không đủ thanh toán nợ thì Công ty T có
nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X cho đến khi
thanh toán xong nợ.
Bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nội dung khởi kiện
của nguyên đơn nhưng vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng, chứng tỏ bị
đơn đã tự từ bỏ việc thực hiện quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh, quyền tự
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình được qui định tại Điều 70 của Bộ
luật Tố tụng dân sự nên Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu
thập được có trong hồ sơ vụ án qui định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về án phí: Công ty T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (tính trên số
tiền phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X) là 10.270.388 đồng. Trả lại
cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tại phiên tòa là
phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ
phần X.
1.1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Cơ khí – Xây dựng T có
trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X toàn bộ số tiền nợ vốn và tiền lãi tính đến ngày 01/07/2021 của Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017 và Khế ước nhận nợ số 2103-LDS-201701987 năm 2017 ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần X - Chi nhánh Bình Tân và Công ty T, số tiền là 205.407.767 đồng (hai trăm lẻ năm triệu, bốn trăm lẻ bảy nghìn, bảy trăm sáu mươi bảy đồng) (trong đó: nợ gốc là 202.398.490 đồng, lãi trong hạn là 2.773.773 đồng, lãi quá hạn là 235.504 đồng).
Tiền lãi quá hạn còn tiếp tục tính từ ngày 02/07/2021 trên dư nợ vốn
tương ứng đến ngày thực trả hết nợ vốn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700900 ngày 25/09/2017 và Khế ước số 2103-LDS-201701987 năm 2017.
1.2. Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Cơ khí –
Xây dựng T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ là:
Một xe ô tô nhãn hiệu: HONDA; số loại CRV; Biển số: 51G-492.51; Số
khung: 385XHY723140; Số máy: K24Z99104284 (có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 302667 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/09/2017 theo Hợp đồng thế chấp số 234/2017/EIB-BT/DN/TC ngày 25/09/2017 và Biên bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 234/2017/EIB-BT/DN/TC (lần 1) ngày 27/09/2017 ký giữa Ngân hàng Thương
mại cổ phần X - Chi nhánh Bình Tân và Công ty T; đăng ký giao dịch bảo đảm
ngày 21/11/2017 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí
Minh.
Nếu giá trị tài sản phát mãi không đủ thanh toán nợ thì Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Thương mại – Cơ khí – Xây dựng T có nghĩa vụ tiếp tục thanh
toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X cho đến khi thanh toán xong nợ.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại –
Cơ khí – Xây dựng T chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 10.270.388 đồng
(mười triệu, hai trăm bảy mươi nghìn, ba trăm tám mươi tám đồng).
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tiền tạm ứng án phí đã nộp
là 8.246.708 đồng (tám triệu, hai trăm bốn mươi sáu nghìn, bảy trăm lẻ tám
đồng) theo biên lai số: AA/2019/0049926 ngày 12/01/2021 của Chi cục Thi
hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng Thương mại cổ phần X, Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Thương mại – Cơ khí – Xây dựng T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.10; - Chi cục THADS Q.10; - Các đương sự, - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Huyền |