- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quý N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo: Nguyễn Quý N phạm tội “trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HSST |
Ngày: 14/4/2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đào Thị Đoan
2. Bà Nguyễn Bích Liên
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thu Trang - thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn - TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2021/ HSST ngày 17 tháng 3 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26 /HSST- QĐ ngày 22 /3 /2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Quý N sinh năm 1997, tại xã K L, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: thợ mộc; văn hoá: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ng Quý M; con bà: Nguyễn Thị Thu; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không có thông tin tài liệu gì trong hồ sơ. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên Toà.
Bị hại: Bà Ng Thị T, sinh 1982; Nơi cư trú: Thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh: Ng Quý M, sinh 2000; Nơi cư trú: Thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa; nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13h ngày 31/10/2020, Nguyễn Quý N đi bộ về qua cổng nhà anh Ng Quý M nhìn thấy anh Minh đi xe máy ra khỏi nhà. Do là hàng xóm N biết bố mẹ anh Minh đi làm xa nên thời điểm này không có ai ở nhà, N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà anh Minh. N đi đến cổng nhà anh Minh, lấy chìa khoá treo trên cổng mở khoá đi vào bên trong. N thấy cửa chính không khoá nên mở cửa đi vào khu vực phòng ngủ. Tại đây, N thấy 01 két sắt để cạnh tủ gỗ, N dùng tay lật ngửa két sắt ra nền nhà sau đó ra sân lấy 01 chiếc búa sắt, 01 thanh sắt hình chữ F. N dùng búa đập thủng két sắt và dùng thanh sắt bẩy tung cửa sắt trộm cắp khoảng được 34.000.0000đồng, 01 nhẫn bằng kim loại mầu vàng, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh nhân dân. N mang toàn bộ tài sản trộm cắp được đi về nhà.
Sau đó, N mang bán chiếc nhẫn bán cho một của hàng vàng bạc ở khu vực nội thành Hà Nội được 10.600.000đồng. Toàn bộ số tiền trộm cắp được và tiền bán chiếc nhẫn trộm cắp được N đã tiêu sài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 229/KL- HĐ - ngày 31/12/2020/ĐGTSTXTTHS kết luận:
01 chiếc nhẫn vàng 9999, trọng lượng 02 chỉ với giá 7.120.000đồng.
01 chiếc két sắt mua năm 2016 với giá 1.300.000đồng.
Về phần trách nhiệm dân sự: bà Ng Thị T yêu cầu N bồi thường số tiền 45.600.000đồng, trong đó: 34.000.000đồng số tiền N đã trộm cắp; 10.600.000đồng là trị giá chiếc nhẫn; 1.000.000đồng trị giá chiếc két bị phá hỏng. Ông Nguyễn Quý S (ông nội N) đã bồi thường cho chị Tính số tiền 45.600.000đồng. Bà T đã nhận đủ số tiền không yều cầu gì thêm, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho N.
Tại bản cáo trạng số: 20/CT/VKS ngày 12/3/2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Quý N về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn duy trì công tố tại phiên Toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận: Bị cáo phạm tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo, xem xét thái độ khai báo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình, Điều 135, 133, 137 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Nguyễn Quý N mức án từ: 20 đến 24 tháng tù.
Về phần nhiệm dân sự: Ghị nhận sự tự nguyện của bà Ng Thị T đã nhận đủ số tiền bồi thường không yêu cầu gì nữa.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Khoảng 13h 00 ngày 31/10/ 2020, tại thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Nguyễn Quý N lợi dụng sơ hở lén lút trộm 34.000.000đông; 01 nhẫn kim loại vàng 02 chỉ trị giá 10. 720.000 đồng của gia đình bà Ng Thị T. Tổng tài sản N trộm cắp trị giá 44.720.000đồng.
Hành vi của bị cáo N đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an, do đó việc đưa bị cáo ra xét xử bằng pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần lên một mức hình phạt, cho tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình cũng nên xem xét đến tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự quy định khi lượng hình đối với bị cáo. Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đó là các tình tiết xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình quy định tại điểm b, i s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về nhân thân: không có thông tin tài liệu gì trong hồ sơ. Xét thấy bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ thì hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo không có tài sản gì giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về phần trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ng Thị T đã nhận đủ số tiền bồi thường không yêu cầu gì nữa.
Về vật chứng: không có.
Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự theo định của pháp luật
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo: Nguyễn Quý N phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 333, 337 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/ 2016/NQ- UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Nguyễn Quý N: 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà Nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên toà án TP Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: -VKSND huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Sóc Sơn (để thi hành) - Bị cáo - Đương sự; Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án | T/ M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA- PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Phi |