- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Minh X phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”; - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Minh X phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 29/2021/HS-ST Ngày 19-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Vĩnh Thành;
2. Bà Trần Thị Ánh Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Tâm, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2021/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Đào Minh X, sinh năm 1975, nơi cư trú: số 212/25, phường 10, quận 4, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Hướng A (đã chết) và bà Trần Thị B sinh năm 1942, có vợ Lý Thúy M sinh năm 1970 và 01 con sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/12/2020 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố X, có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1993, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 29/12/2020, Tổ Phối hợp Liên ngành chống buôn lậu tỉnh An Giang, gồm lực lượng Cảnh sát Cơ động Tây Nam bộ, Cảnh sát giao thông và Công an xã Vĩnh Tế, thành phố X, tỉnh An Giang, trên đường tuần tra, đến khu vực tuyến đường tránh N1- Quốc lộ 91 (tổ 11, ấp Cây Châm, xã Vĩnh Tế, thành phố X), phát hiện, bắt quả tang Đào Minh X điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu SAVI, biển số 83H5 – 3870, đang vận chuyển hàng cấm; thu giữ 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (800 bao nhãn hiệu HERO, 800 bao hiệu JET và 200 bao nhãn hiệu SCOTT), để trong 02 giỏ xách nhựa.
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSCĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố bị cáo Đào Minh X về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa cấm lưu thông trên thị trường nội địa, nhất là đối với thuốc lá điếu nhập lậu bị cấm kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển dưới mọi hình thức. Đồng thời, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi, mức độ, hậu quả bị cáo gây ra.
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 17/02/1993, Tòa án nhân dân Quận 4, thành phố H xét xử sơ thẩm kết án 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân” và Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 4; ngày 06/01/2009, Công an huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi kinh doanh hàng cấm; ngày 10/3/2015 Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, xét xử sơ thẩm kết án 01 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm” và ngày 19/5/2015, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân; các Bản án, Quyết định chấp hành xong, xóa án tích.
Tuy nhiên, bị cáo thuộc thành phần lao động, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải nên cần xem xét khi lượng hình.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 02 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/12/2020.
Về hình phạt bổ sung, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với: Người thanh niên (không rõ lai lịch), thuê X vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo luật định.
Về biện pháp tư pháp, đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015, xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu trong đó: 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet; 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott; 02 (hai) giỏ xách.
- Giao trả cho bị cáo 01 (một) xe honda, biển số 83H5-3870 xe màu xanh lốc máy hiệu honda, bể mặt nạ trước, có hàn baga phía sau, SM: 2FMH00020283, SK: H1NT51020283 cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 0018551 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 19/7/2006; 01 (một) giấy phép lái xe số: 920170000254 tên Đào Minh X do Sở GTVT tỉnh Hậu Giang cấp ngày 26/4/2017.
Tình hình tội phạm về buôn bán, vận chuyển hàng cấm có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước và ảnh hưởng đến công tác phòng chống gian lận thương mại về hàng gian, hàng giả, hàng nhập lậu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử có đề cập kiến nghị đến Ủy ban nhân dân thành phố X, Công an thành phố X tăng cường biện pháp phòng ngừa, đấu tranh triệt để và nghiêm trị đối với các loại tội phạm này.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng,
Mặc dù, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người làm chứng ông Nguyễn Văn N vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, ông N đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của ông N không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
Hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố X, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung vụ án, bị cáo khai nhận: Khoảng 05 giờ sáng ngày 29/12/2020 bị cáo điều khiển xe Honda biển số 83H5-3870 từ nhà ở địa chỉ Phú Xuân, thị trấn Cái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang lên thành phố X mua rau, củ, quả về bán kiếm lời. Khoảng 12 giờ 30 phút trong lúc mua rau, củ gần khu vực bến xe mới thành phố X thì có một thanh niên (không rõ tên, địa chỉ) đến làm quen và thuê bị cáo chở thuốc lá điếu nhập lậu về Cầu Cái Sắc thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang với giá 250.000 đồng/01 chuyến. Do nhu cầu cuộc sống nên bị cáo đồng ý, sau đó, người thanh niên giao cho bị cáo 02 (hai) giỏ xách bên trong có chưa thuốc lá điếu nhập lậu (bị cáo không kiểm tra số lượng, chủng loại của thuốc lá điếu nhập lậu), bị cáo lấy rau củ chất lên trên để ngụy trang. Sau đó, người thanh niên kêu bị cáo chạy theo hướng Tịnh Biên-Tri Tôn – Long Xuyên để né tránh trạm kiểm soát ở Châu Phú. Nhưng khi bị cáo điều khiển xe 83H5 – 3870 chạy đến khu vực thuộc ấp Cây Châm, xã Vĩnh Tế, thành phố X, tỉnh An Giang thì bị lực lượng Công an điều tra bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố; biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 29/12/2020 do Công an xã Vĩnh Tế, thành phố X, tỉnh An Giang lập.
Bên cạnh đó, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng thu giữ là một xe mô tô biển kiểm soát 83H5- 3870 và 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu trong đó 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet; 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi vận chuyển 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu, bao gồm các loại: Hero, Scott, Jet và bị bắt quả tang tại khu vực khu ấp Cây Châm, xã Vĩnh Tế, thành phố X, tỉnh An Giang khi đang vận chuyển về thành phố Long Xuyên.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp lực nhưng vẫn cố ý thực hiện, qua việc thực hành hành vi vào buổi chiều, cất giấu vào bên trong các rau, củ, quả để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa, số lượng thuốc lá điếu nhập lậu mà bị cáo vận chuyển và bị thu giữ là 1.800 bao. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ Luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, việc sử dụng thuốc lá có thể gây ra các bệnh tim mạch, các bệnh lý về phổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người. Cho nên, Nhà nước đã độc quyền quản lý đối với thuốc lá điếu nhằm kiểm soát được lượng thuốc lá trên thị trường và có những chính sách thích hợp để hạn chế việc sử dụng thuốc lá, bảo vệ sức khỏe cho người dân.
Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, đáng lẽ phải cố gắng để tạo ra thu nhập chính đáng cho bản thân và gia đình nhưng vì hám lợi trước mắt mà đã dấn thân vào con đường phạm tội. Do đó, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu; Ngày 17/02/1993 Tòa án nhân dân Quận 4, xét xử sơ thẩm kết án 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”, ngày 17/4/1993, Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 4; ngày 06/01/2009, Công an huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi kinh doanh hàng cấm; ngày 10/3/2015 Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, xét xử sơ thẩm kết án 01 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, ngày 19/5/2015, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân; các Bản án, Quyết định chấp hành xong, xóa án tích.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai báo toàn bộ cách thức vận chuyển thuốc lá nhập lậu. Điều này cho thấy bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do đó, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm hình sự của người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) thuê X vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, bị cáo không cung cấp được lai lịch của người thanh niên lạ mặt nên không có cơ sở điều tra, giải quyết. Do đó, cơ quan chức năng sẽ điều tra, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với số lượng 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu bị thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Đối với 02 (hai) giỏ xách nhựa, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 (một) xe honda, biển số 83H5-3870 xe màu xanh lốc máy hiệu honda, bể mặt nạ trước, có hàn baga phía sau, SM: 2FMH00020283, SK: H1NT51020283. Bị cáo khai mua của Lê Văn Thanh nhưng nguồn tiền mua là của gia đình bà Lê Thúy M (vợ bị cáo) và đây là phương tiện duy nhất trong gia đình của bị cáo để mưu sinh. Xét hoàn trả cho bị cáo 01 (một) chiếc xe honda, biển số 83H5-3870 cho bị cáo cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 0018551 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 19/7/2006.
- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số: 920170000254 tên Đào Minh X do Sở GTVT tỉnh Hậu Giang cấp ngày 26/4/2017 đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên giao trả cho bị cáo.
Về án phí hình sự cơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Đào Minh X phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”;
Xử phạt: Đào Minh X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/12/2020.
Căn cứ vào các điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2, các điểm a,b,c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) giấy phép lái xe số: 920170000254 tên Đào Minh X do Sở GTVT tỉnh Hậu Giang cấp ngày 26/4/2017; 01 (một) xe honda, biển số 83H5-3870 xe màu xanh lốc máy hiệu honda, bể mặt nạ trước, có hàn baga phía sau, SM:2FMH00020283, SK:H1NT51020283 cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 0018551 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 19/7/2006;
- Tịch thu tiêu hủy: 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu trong đó 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet; 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott; 02 (hai) giỏ xách nhựa, không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố X với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố X).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đào Minh X phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Thi hành án DS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Tiền |