vanban.org

Bản án 29/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 13/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2021. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HS-ST
Ngày 13 tháng 7 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị CH;

Bà Hoàng Thị Tuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2021/TLST-HS, ngày 10 tháng 05 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 7 năm 2021, của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:

Lương Văn H, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1992, tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Đ, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân H và bà Nông Thị L; có vợ là Lương Thị Diễm H và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam được tính từ ngày tạm giữ 12/01/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đến nay, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Đường Thanh H1, sinh năm 1994, vắng mặt.

2. Anh Cung Văn N, sinh năm 1986, vắng mặt.

3. Anh Hoàng A, sinh năm 1996, có mặt.

4. Anh Nông Đình H, sinh năm 1993, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 15 phút ngày 12/01/2021, Công an huyện Tràng Định phát hiện lập biên bản Đường Thanh H1 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. H1 khai nhận gói ma túy vừa sử dụng mua với Lương Văn H với giá 200.000 đồng; đến này 12/01/2021 trên đường đi làm thợ xây, H1 đem số ma túy này xuống chân cầu Suổi Ngàn sử dụng thì bị phát hiện.

Công an huyện Tràng Định tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Văn H thu giữ được: Trên tủ lạnh nhà bếp 12 gói chất bột màu trắng (05 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng, 07 gói được gói bằng vỏ bao thuốc lá Thủ Đô đựng trong lọ DOUBLEMINT màu xanh); 01 cục chất bột màu trắng; 01 túi nilon trong suốt đựng tinh thể màu trắng và 01 túi nilon trong suốt đựng 05 viên nén màu hồng; 01 túi nilon trong suốt đựng chất dẻo màu đen, 01 túi nilon trong suốt bám dính chất bột màu trắng, 01 đoạn ống hút màu tím một đầu được vát nhọn; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 túi nilon trong suốt bên trong đựng túi nilon trong suốt chứa 20 viên màu hồng; 01 túi nilon trong suốt bên trong đựng tinh thể màu trắng; 01 que hình trụ tròn dài 15cm một đầu vát nhọn bám dính chất bột màu trắng, 03 túi nilon trong suốt bên trong đựng túi nilon màu trắng, 01 bình đựng chất lỏng màu nâu hình quả hồ lô được cắm một ống hút màu hồng có gắn giấy bạc màu trắng, 01 ống hút màu xanh được nối tiếp 01 đoạn màu xanh dương dài 01cm gắn đầu hút bằng gỗ màu nâu và kim loại màu trắng; thu giữ 03 điện thoại di động (01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO và 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA); 04 bật lửa ga; 02 cuộn giấy bạc; 01 khẩu súng có gắn ống ngắm hiệu DISCOVERY và 01 khẩu báng gỗ màu nâu, phần thân súng được dán bằng băng dính màu xám; 12 viên đạn màu nâu còn nguyên đầu đạn, 120 viên đạn màu xám và số tiền 12.400.000 đồng. Tổng số ma túy thu giữ được của Lương Văn H gồm: 2,456 gam chất ma túy Heroine; 8,584 gam chất ma túy Methamphetamine; 0,271 gam thuốc phiện.

Ngày 02/02/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Tràng Định quyết định tách vụ án để điều tra về hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng đối với bị cáo và ngày 03/02/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định ra Quyết định số 01/QĐ-VKSTĐ ra Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền. Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Lương Văn H đã khai nhận như sau:

Lương Văn H khai nhận, bản thân nghiện chất ma túy nên từ tháng 12 năm 2020 đến khi bị bắt, H đã 04 lần đến xóm trọ thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mua ma túy với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ đem về chia nhỏ mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Cụ thể có 4 lần:

Lần 1: Khoảng giữa tháng 12 năm 2020, mua 01 gói Heroine dạng cục, 02 gam ma túy đá, 05 viên ma túy tổng hợp với tổng số tiền là 3.050.000 đồng;

Lần 2: Sau lần 1 khoảng 01 tuần mua 01 gói ma túy Heroine dạng cục, 03 gam ma túy đá, 05 viên ma túy tổng hợp hết 5.300.000 đồng;

Lần 3: Khoảng 10 giờ, ngày 28/12/2020, mua 01 gói ma túy Heroine dạng cục, 02 gam ma túy đá, 10 viên ma túy tổng hợp hết 5.100.000 đồng;

Lần 4: Khoảng 10 giờ, ngày 01/01/2021, mua 01 gói ma túy Heroine dạng cục, 05 gam ma túy đá, 35 viên ma túy tổng hợp, 01 gói thuốc phiện hết 9.950.000 đồng.

Lương Văn H khai đã bán rất nhiều lần cho nhiều đối tượng nghiện để kiếm lời nhưng không nhớ tên. Thời gian cụ thể chỉ nhớ bán cho các đối tượng sau: Ngày 10/01/2021, bán cho Đường Thanh H1 01 lần, 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng; ngày 11/01/2021, bán cho Cung Văn N 01 lần, 01 gói ma túy Heroine với giá 160.000 đồng; bán cho Hoàng A hai lần, mỗi lần một gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng, vào ngày 09-10/01/2021; bán cho Nông Đình H hai lần, mỗi lần 01 gói giá 200.000 đồng vào các ngày 11-12/01/2021.

Tại Bản kết luận giám định số 57/KL-PC09 ngày 14/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: 12 gói chất bột màu trắng và 01 cục chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn H gửi giám định đều là chất ma túy Heroine có tổng khối lượng 2,456 gam; chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 túi nilon đều là chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 6,136 gam; chất dẻo màu đen là thuốc phiện có khối lượng 0,271 gam; 25 viên nén màu hồng đều là chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 2,448 gam.

Tại Bản kết luận giám định số 88/KL-PC09 ngày 18/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Khẩu súng màu đen có gắn ông ngắm hiệu DISCOVERY gửi giám định là súng hơi, bắn đạn chì cỡ 5,5mm bằng lực đẩy khí nén, thuộc danh mục súng săn, vẫn còn sử dụng để bắn được; khẩu súng có báng súng bằng gỗ màu nâu gửi giám định là súng hơi tự chế, bắn được loại đạn chì 5,5mm bằng lực đẩy khí nén thuộc danh mục súng săn, vẫn còn sử dụng để bắn được; 12 viên đạn màu nâu gửi giám định đều là đạn quân dụng cỡ 7,62mm x 39mm; 120 viên đạn màu xám gửi giám định đều là đạn chì cỡ 5,5mm, không phải đạn quân dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 100/KL-PC09, ngày 19/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận toàn bộ số tiền 12.400.000 đồng được gửi giám định đều là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSTĐ ngày 10/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lương Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, thừa nhận dùng 01 điện thoại (nhãn hiệu VIVO) vào việc phạm tội; số tiền thu giữ tổng là 12.400.000 đồng, trong đó có 10.000.000 đồng có nguồn gốc do bán ma túy mà có, trong đó có cả các lần bị cáo nhớ được và bị Viện kiểm sát truy tố. Số tiền còn lại là 2.400.000 đồng là do vợ đi làm gửi về cho bị cáo nuôi con hàng ngày. Bị cáo đề nghị trả lại 02 chiếc điện thoại khác và số tiền 2.400.000 đồng không dùng vào việc phạm tội.

Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251; đề nghị áp dụng Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn H từ 8 năm đến 9 năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và tài sản không có giá trị sử dụng; tịch thu và hóa giá sung quỹ nhà nước số tiền do bị cáo phạm tội mà có, tai sản bị cáo dùng vào việc phạm tội; trả cho bị cáo số tiền, tài sản không dùng vào việc phạm tội. Đối với các súng săn, súng tự chế được thu giữ đề nghị tịch thu và giao cho cơ quan có thẩm quyền quản lý; về án phí đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin được mức án nhẹ để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.

Về hành vi cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng có mặt tại phiên tòa, đồng thời phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định, bị cáo Lương Văn H đã có hành vi mua bán trái phép ma túy Heroine nhiều lần cho các đối tượng nghiện, số ma túy bị thu giữ có nhiều loại với số lượng lớn. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có căn cứ ngoại phạm đối với bị cáo.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và thực hiện hành vi rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, do đó phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài tình tiết định khung, bị cáo không có tình tiết tặng nặng nào khác; về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt. Trên cơ sở đánh giá này, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, cũng đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng khác, tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước tài sản dùng vào việc phạm tội, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng do phạm tội mà có, đối với 02 khẩu súng hơi và 120 viên đạn màu xám không phải là vũ khí quân dụng thì tịch thu giao cho Công an huyện Tràng Định quản lý theo thẩm quyền, đối với 12 viên đạn quân dụng đã được xử lý trong vụ án khác, không xem xét trong vụ án này; trả lại cho bị cáo 02 chiếc điện thoại (01 chiếc nhãn hiệu OPPO, 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA) và số tiền 2.400.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí không phải vũ khí quân dụng, bị cáo đã bị Công an huyện Tràng Định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo tài liệu xác minh ngày 01 tháng 02 năm 2021, thể hiện bị cáo Lương Văn H không có tài sản, mặt khác bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền là phù hợp với quy đinh tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đối với các đối tượng nghiện ma túy mua của bị cáo đã được Công an huyện Tràng Định xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định; đối với người đàn ông đã bán chất ma túy cho bị cáo Lương Văn H tại xóm trọ thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; Điều 38; khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2021. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

- 01(một) phong bì thư niêm phong tang vật ký hiệu 01, mặt trước ghi: “Tang vật nghi ma túy đá thu giữ khi khám xét chỗ ở, đồ vật đối với Lương Văn H ngày 12/01/2021” bên trong có: 02 (hai) gói túi nilon (cũ) đựng tổng cộng 5,469 gam chất ma túy Methamphetamine (đã trừ bì và phần hao hụt dùng làm mẫu giám định);

- 01(một) phong bì thư niêm phong tang vật ký hiệu 02, mặt trước ghi: “Tang vật nghi ma túy Heroine thu giữ khi khám xét chỗ ở, đồ vật đối với Lương Văn H ngày 12/01/2021”, bên trong có 02 (hai) gói giấy và 01 (một) túi nilon (cũ) đựng tổng cộng 2,219 gam chất ma túy Heroine (đã trừ bì và phần hao hụt dùng làm mẫu giám định) và toàn bộ các vỏ bao gói (cũ) gồm 05 (năm) gói giấy bạc màu vàng, 07 (bẩy) gói giấy;

- 01(một) phong bì thư niêm phong tang vật ký hiệu 03, mặt trước ghi: “Tang vật nghi thuốc phiện thu giữ khi khám xét chỗ ở, đồ vật đối với Lương Văn H ngày 12/01/2021” bên trong có: 01 (một) vỏ túi nilon cũ (mẫu vật đã được sử dụng hết trong quá trình giám định);

- 01(một) phong bì thư niêm phong tang vật ký hiệu 04, mặt trước ghi: “Tang vật nghi ma túy tổng hợp thu giữ khi khám xét chỗ ở, đồ vật đối với Lương Văn H ngày 12/01/2021” bên trong có: 02 (hai) túi nilon (cũ) đựung tổng cộng 1,859 gam chất ma túy Methamphetamine (đã trừ bì và phần hao hụt dùng làm mẫu giám định);

- 01 (một) que hình trụ tròn dài 15cm một đầu vát nhọn bám dính chất bột màu trắng; 03 (ba) túi nilon trong suốt bên trong đựng túi nilon màu trắng; 01 (một) bình đựng chất lỏng màu nâu hình quả hồ lô được cắm một ống hút màu hồng có gắn giấy bạc màu trắng và 01 ống hút màu xanh được nối tiếp một đoạn màu xanh dương dài 01cm gắn đầu hút bằng gỗ màu nâu và kim loại màu trắng; 01(một) đoạn ống hút màu tím một đầu được vát nhọn; 04 (bốn) bật lửa ga; 02 (hai) cuộn giấy bạc; 01 (một) xi lanh đã qua sử dụng; 01(một) gói nilon trong suốt bám dính chất bột màu trắng; 01 (một) bật lửa bằng kim loại màu vàng.

3.2. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu tím than cũ đã qua sử dụng, lắp 01 sim có số thuê bao: 0388765876, số IMEI: 867690559766617;

3.3. Áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

(Số tiền trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/5/2021 nằm trong phong bì thư niêm phong tang vật tiền, mặt trước ghi:“Tang vật tiền 12.000.000đ thu giữ khi khám xét chỗ ở, đồ vật của Lương Văn H ngày 12/01/2021” có chữ ký của giám định viên và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, bên trong phong bì đựng tiền Việt Nam gồm: 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng)).

3.4. Trả cho bị cáo:

- Số tiền 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn) đồng nhưng tạm giữ để thi hành án.

(Số tiền này có 2.000.000 đồng nằm trong phong bì niêm phong tang vật tiền, mặt trước phong bì ghi số tiền 12.0000.000 đồng ngày 12/01/2021 và 400.000đ nằm trong phong bì thư niêm phong tang vật mặt trước ghi: “Tang vật tiền 400.000 đồng thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lương Văn H ngày 12/01/2021”, bên trong phong bì đựng tiền Việt Nam gồm: 400.000 đồng).

- 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng, cũ đã qua sử dụng, số IMEI: 864267041822479;

- 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu xanh, cũ đã qua sử dụng, số IMEI: 354181100719624.

3.5. Tịch thu và giao cho Công an huyện Tràng Định quản lý theo thẩm quyền đối với 02 khẩu súng (01 khẩu màu đen dạng khí nén có gắn ông ngắm hiệu DISCOVERY và 01 khẩu báng gỗ màu nâu) và 120 viên đạn màu xám cỡ 5,5mm không phải là vũ khí quân dụng.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ