- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HS - ST Ngày 06/8/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƢNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Khuê
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lƣơng Văn kế
Bà Vũ Thị Toan
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2021/TLST - HS ngày 29 tháng 6 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 7 năm 2021.
Đối với bị cáo: NGUYỄN MINH H - Sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Thôn Giai L, xã Lệ X, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Giớ i tinh:
́ Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn A - SN 1949 (đã chết); Con bà: Lê Thị Bích B (Lê Thị Hồng V), sinh năm 1954.
Tiền án: Năm 2018 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ xử phạt 01 năm 09 tháng tù giam (ra trại ngày 18/8/2019), chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Ngày 18/5/2021, Công an huyện Tiên Lữ xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2021, tạm giam từ ngày 21/4/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. (có mặt).
+ Bị hại: ông Lê Văn B, sinh năm 1960; Trú tại thôn Lê B, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt).
+ Người làm chứng:
- Chị Ngô Thị Ng, sinh năm 1977 (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Đều trú tại thôn Lê B, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
- Bà Lê Thị Bích B (Lê Thị Hồng V) - SN 1954 (vắng mặt).
Trú tại thôn Giai L, xã Lệ X, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 15 phút ngày 13/4/2021, Nguyễn Minh H, sinh năm 1996 ở thôn Giai L, xã Lệ X, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, không gắn biển số xe đi từ nhà theo Quốc lộ 39 lên thành phố Hưng Yên chơi. Khi H đi đến ngã tư thôn Ba H, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ thì xe bị hỏng, H dắt bộ khoảng 600 m thì phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu KITAFU, màu xanh, BKS 89AA - 012.51 của ông Lê Văn B, sinh năm 1960 ở thôn Lê B, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ, có chìa khóa xe vẫn cắm ở xe, đầu xe hướng vào nhà người dân đang xây dựng, đuôi xe hướng ra đường Quốc lộ 39. Lúc này, H nảy ra ý định trộm cắp tài sản nên dắt xe của H lại gần, Hiền lấy 01 chiếc cờ lê trong xe của H và để lại xe của H ở đó. Hiền tiến tới mở khóa xe KITAFU, BKS 89AA - 012.51 rồi điều khiển xe chạy thẳng Quốc lộ 39 lên thành phố Hưng Yên rồi chạy theo hướng chợ Gạo đi xã Lệ X, huyện Tiên Lữ. Khi đến khu vực cầu Cáp, H qua cầu khoảng 500m thì dừng lại lấy cờ lê ở trong rỏ xe ra tháo biển số xe rồi vứt biển số xe cùng cờ lê ở cạnh mương, sau đó H tiếp tục điều khiển xe đi về nhà. Khi về nhà H cất giấu xe máy trong bếp nhà H.
Ngày 15/4/2021, Công an huyện Tiên Lữ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Minh H tại thôn Giai L, xã Lệ X, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, qua khám xét thu giữ: tại gian bếp phía ngoài cạnh cổng 01 xe máy không biển kiểm soát, nhãn hiệu KITAFU CUP, số khung B3UMGA000365, số máy 139FMB000365 màu xanh; tại phía trên nóc màn tại gian chính 01 áo khoác loại dài tay màu đen; tại ba lô trong buồng ngủ 01 quần soóc màu đen.
Bản kết luận định giá tài sản số 85 ngày 14/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Lữ kết luận: giá trị 01 xe máy nhãn hiệu KITAFU, màu xanh, BKS 89AA - 012.51 là 5.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu KITAFU, màu xanh, số khung B3UMGA000365, số máy 139FMB000365, là tài sản của ông Lê Văn B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lữ đã trả lại cho ông Bích, ông Bích không có yêu cầu bồi thường, không đề nghị gì khác.
- Đối với biển số xe 89AA - 012.51 và cờ lê H dùng để tháo biển số, Công an huyện Tiên Lữ đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, không gắn biển kiểm soát, số khung RLGSC10KHAH051997, số máy VMSACB - H051997 là tài sản của Nguyễn Minh H.
- 01 áo khoác loại dài tay màu đen và 01 quần soóc màu đen đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 21/CT - VKSTL ngày 29/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Nguyễn Minh H nhận tội, khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đa truy tố. Đối với 01 xe mô tỗ nhãn hiệu SYM, không gắn biển kiểm soát, số khung RLGSC10KHAH051997, số máy VMSACB - H051997 bị cáo đề nghị xin lại. Đối với 01 áo khoác loại dài tay màu đen; 01 quần soóc màu đen bị cáo H đề nghị không lấy lại.
Bị hại là ông Lê Văn B vắng mặt tại phiên tòa, tại giai đoạn điều tra ông có quan điểm về hành vi phạm tội của bị cáo H, ông đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự do ông đã nhận được lại tài sản bị trộm cắp nên ông không có yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có 01 tiền án năm 2018 chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H mức án từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 01(một) năm 09 (chín) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giam 15/4/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn B đã nhận lại xe máy nhãn hiệu KITAFU, màu xanh, số khung B3UMGA000365, số máy 139 FMB000365, ông B không có yêu cầu bồi thường, không đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu KITAFU, màu xanh, số khung B3UMGA000365, số máy 139FMB000365, là tài sản của ông Lê Văn B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lữ đã trả lại cho ông B, ông B không có yêu cầu bồi thường, không đề nghị gì khác. Đối với biển số xe 89AA - 012.51 và cờ lê Hiền dùng để tháo biển số, Công an huyện Tiên Lữ đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên đề nghị Hội đồng không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, không gắn biển kiểm soát, số khung RLGSC10KHAH051997, số máy VMSACB - H051997 là tài sản của Nguyễn Minh H không liên quan tới hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 áo khoác loại dài tay màu đen đã qua sử dụng; 01 quần soóc màu đen đã qua sử dụng là tài sản của H tuy nhiên không còn giá trị sử dụng, bị cáo Hiền đề nghị không lấy lại nên tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 13/4/2021 (bút lục 41); Biên bản khám xét hồi 18 giờ ngày 15/4/2021 (bút lục 36); Bản kết luận định giá tài sản số: 85/KL - HDĐGTS ngày 14/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Lữ (bút lục 30); phù hợp với lời khai của bị hại bà Lê Thị B (Lê Thị Hồng V) mẹ đẻ bị cáo; những người làm chứng anh Nguyễn Văn B; chị Nguyễn Thị Ng (bút lục 96; 100; 104). Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 13/4/2021, tại thôn Ba Hàng, xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Minh H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu KITAFU, màu xanh, BKS: 89AA - 012.51 trị giá 5.000.000 đồng của ông Lê Văn B.
Bị cáo Nguyễn Minh H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi nêu trên của bi ̣ cáo đã đ ủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa , Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
.Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hiện nay tình trạng trộm cắp tài sản là đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, xe máy diễn ra ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh nói chung và địa bàn huyện Tiên Lữ nói riêng gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng lại lười lao động, không có công việc ổn định, bản thân lại mắc nghiện ma túy đây là một trong những nguyên dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng, hoang mang cho người dân. Bị cáo có nhân thân xấu năm 2018 bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, mặt khác ngày 18/5/2021, bị Công an huyện Tiên Lữ xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng bị cáo chưa thi hành nay tiếp tục lại phạm tội “Trộm cắp tài sản” điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, khó cải tạo giáo dục. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, dành cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngày 17/4/2018 tại bản án số 07/2018/HSST của Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ xử phạt 01(một) năm 09(chín) tháng tù giam đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 18/8/2019, nhưng chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, giá trị tài sản phạm tội không lớn, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét đ ể giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly b ị cáo Nguyễn Minh H ra khỏi đời sống xã hội mô ̣t thờ i gian để cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng chống tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo H là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn B đã nhận lại xe máy nhãn hiệu KITAFU, màu xanh, số khung B3UMGA000365, số máy 139FMB000365, ông Bích không có yêu cầu bồi thường, không đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với biển số xe 89AA - 012.51 và cờ lê Hiền dùng để tháo biển số, Công an huyện Tiên Lữ đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên đề nghị Hội đồng không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, không gắn biển kiểm soát, số khung RLGSC10KHAH051997, số máy VMSACB - H051997 là tài sản của Nguyễn Minh H không liên quan tới hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 áo khoác loại dài tay màu đen đã qua sử dụng; 01 quần soóc màu đen đã qua sử dụng là tài sản của H tuy nhiên không còn giá trị sử dụng, bị cáo Hiền đề nghị không lấy lại nên tịch thu cho tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H: 01(một) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/4/2021.
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Minh H 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, không gắn biển kiểm soát, số khung RLGSC10KHAH051997, số máy VMSACB - H051997 là tài sản của Nguyễn Minh H.
- Tịch thu cho tiêu hủy 01 áo khoác loại dài tay màu đen và 01 quần soóc màu đen đã qua sử dụng của bị cáo H.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 20/QĐ – VKS ngày 29 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên).
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
| Nơi nhận: - Phòng NV&THA TAND tỉnh; - VKSND tỉnh HY & huyện Tiên Lữ; - Chi cục THADS huyện Tiên Lữ; - CQCSĐT Công an huyện Tiên Lữ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đăng Khuê |