- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Lang Thế A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lang Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HS-ST Ngày 30/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mong Thái Dương và ông Lang Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Huyền Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà:
Ông Lương Hoài Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 18/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Lang Thế A; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/10/1994, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lang Văn T; con bà : Vi Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2021. Có mặt.
- Bị hại: Ông Lô Văn N, sinh năm 1964; trú tại xóm H, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lang Thế A: Bà Nguyễn Thị T, Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/01/2021 Lang Thế A lên xã Ch, huyện Q để bắt xe khách đi xã T; khi lên đến xóm H, xã Ch thấy có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA-SIRIUS biển kiểm soát 37F1-053.60 dựng gần đường và có chìa khóa dắt trong ổ điện; Lang Thế A quan sát không thấy người nên đã nổ máy chạy xe lên xã T, huyện Q. Đến khoảng 12 giờ 50 phút ngày 15/01/2021 khi Lang Thế A đang điều khiển xe trên địa bàn xã T thì bị bắt quả tang; thu giữ một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA-SIRIUS biển kiểm soát 37F1-053.60 và 1.005.000 đồng. Sau khi biết bị mất xe ông Lô Văn N đã đến công an xã Ch trình báo.
Hội đồng định giá tài sản huyện Q định giá chiếc xe mô tô mà bị cáo chiếm đoạt của ông Lô Văn N, trị giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
Tại phiên tòa bị cáo Lang Thế A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 15/01/2021 tại xóm H, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An Lang Thế A đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA-SIRIUS biển kiểm soát 37F1-053.60; khi lên đến xã T thì bị phát hiện.
Cáo trạng số 26/CT-VKS- HS ngày 26/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lang Thế A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lang Thế A từ 06 đến 09 tháng tù. Bị hại đã nhận được tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nữa, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh; đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 06 tháng tù.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 15/01/2021 tại xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An Lang Thế A đã lén lút chiếm đoạt một chiếc một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA-SIRIUS biển kiểm soát 37F1-053.60 của ông Lô Văn N, trị giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu của người khác về tài sản. Do đó bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác về tài sản, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; mục đích bị cáo chiếm đoạt tài sản là để có ma túy sử dụng. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khai báo thành khẩn đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Lang Thế A từ 06 đến 09 tháng tù; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo 06 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa về mức án là hợp lý; tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại theo điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là không đúng vì việc có được tài sản để trả cho bị hại là do Công an huyện Q bắt, thu giữ của bị cáo trên đường đưa tài sản đi tiêu thụ.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại; đối với số tiền 1.005.000 đồng, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về dân sự: Tại cơ quan điều tra bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có yêu cầu sẽ xem xét và giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Lang Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Phạt Lang Thế A 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/01/2021.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lang Thế A phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lang Thế A có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạ n 15 ngày kể từ ngà y nhậ n đượ c bả n á n hoặc kể từ ngày được tống đạt hợ p lệ .
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại. - VKSND huyện Q. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Q. - Chi cục THA DS huyện Q. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |