vanban.org

Bản án 29/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 21/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Xuân H - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HS-ST
Ngày 21-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Nghi và bà Đậu Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXXST-HS ngày 09/6/2021, đối với bị cáo:

Hoàng Xuân H, sinh ngày 14/10/1976; tại: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân B (đã chết) và bà Đặng Thị D; vợ Trần Thị T và có 01 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/01/2021 đến ngày 30/01/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị T, sinh năm 1985; nơi cư trú: tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 18/01/2021, Hoàng Xuân H đến địa phận xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch để tìm mua trâu bò và đã vào quán cà phê ở thôn Phúc Kiều, xã Quảng Tùng để uống nước. Trong khi uống nước, H nghe một người đàn ông trung niên, không rõ lai lịch đang nói chuyện với nhóm bạn về việc có bán pháo hoa nổ, sau đó H gặp người đàn ông này hỏi mua pháo để sử dụng đốt trong dịp tết nguyên đán 2021. H hỏi “mỗi hộp pháo bao nhiêu tiền?”, người đàn ông kia trả lời “Mỗi thùng 36 quả có giá 600.000 đồng”, H đồng ý và đặt mua 17 hộp pháo, người đàn ông kia hẹn tối ngày 21/01/2021 có pháo và hẹn giao dịch tại đường xuyên á, thuộc địa phận xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, sau đó H ra về.

Đến khoảng 02 giờ ngày 21/01/2021, H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu trắng, BKS 38A-219.54 của chị Trần Thị T (vợ của H), theo QL 1A vào Quảng Bình. Khi đến khu vực đường xuyên á, thuộc xã Quảng Tùng như đã hẹn, H gặp người đàn ông trung niên đang đứng cạnh mép đường, bên cạnh có 01 bao tải lác màu trắng. H nhận ra người đàn ông giao dịch mua bán pháo với mình từ trước nên dừng lại, sau đó H kiểm tra bên trong có 17 hộp pháo, 2 bên thống nhất giá 600.000 đồng/1hộp, tổng số tiền là 10.200.000 đồng nhưng được bớt 200.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng. H trả tiền cho người đàn ông đó và lấy pháo. Sau khi giao nhận xong, H mở khóa cốp sau xe ô tô để người đàn ông bán pháo bê bao tải đựng pháo bỏ vào trong cốp xe cho H. Sau đó, H điều khiển xe ô tô theo Quốc lô 1A ra hướng Bắc. Khi đi đến trạm thu phí đường bộ TASCO, thuộc địa phận thôn Nam Lãnh, xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch thì bị lực lượng Công an huyện Quảng Trạch dừng phương tiện ô tô BKS 38A-219.54 kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ: 17 hộp pháo hoa nổ, trong đó có 16 khối hình hộp, kích thước (14,5x14,5x12,5cm), vỏ hộp giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, hình pháo hoa, nhãn hiệu Chongkol, mã ký hiệu C0833, bên trong khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết lại với nhau bằng dây ngòi, khối lượng 1,4 kg và 01 khối hình hộp, kích thước (14,5x14,5x12,5cm), vỏ hộp giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, hình pháo hoa, nhãn hiệu Chongkol, mã ký hiệu C0834, bên trong khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết lại với nhau bằng dây ngòi, khối lượng 1,4 kg. (Quá trình giám định, phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Bình đã sử dụng hết 01 hộp pháo ký hiệu C0833 và 01 hộp pháo, ký hiệu C0834); 01 xe ô tô con màu trắng, nhãn hiệu Hyundai Accent BKS 38A-219.54; 01 bao tải màu trắng, bên ngoài có nhiều hoa văn, cũ đã qua sử dụng.

Vật chứng được thu giữ để điều tra và xử lý theo quy định. Đã trả lại 01 xe ô tô con màu trắng, nhãn hiệu Hyundai Accent BKS 38A-219.54 cho chủ sở hữu là chị Trần Thị T. Đối với vật chứng còn lại được chuyển xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số: 248/GĐ-PC09 ngày 26/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Mẫu cần giám định là pháo nổ (loại pháo hoa nổ), tổng khối lượng 22,9 kg.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSQT ngày 19 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Hoàng Xuân H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Về tội danh: tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; về hình phạt: xử phạt bị cáo Hoàng Xuân H từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy: 15 khối hình hộp, kích thước 14,5cm x 14,5cm x 12,5cm, vỏ hộp giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, hình pháo hoa, nhãn hiệu Chongkol, mã ký hiệu C0833, bên trong khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết lại với nhau bằng dây ngòi, khối lượng 1,4 kg. Tổng khối lượng 20,1 kg, được niêm phong trong thùng Cattong, dán kín các mép và có chữ ký của các thành phần tham gia; 01 bao tải màu trắng, bên ngoài có nhiều hoa văn, cũ đã qua sử dụng; về án phí: buộc bị cáo Hoàng Xuân H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố, kết tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc kH nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Xuân H đã thừa nhận và thống nhất khai nhận: Vào ngày 18/01/2021, tại thôn Phúc Kiều, xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, bị cáo đã gặp một người đàn ông trung niên, không rõ lai lịch và thỏa thuận mua bán 17 hộp pháo hoa nổ, với giá 600.000 đồng/1hộp, tương ứng số tiền là 10.200.000 đồng nhưng được giảm (bớt) 200.000 đồng và hẹn tối ngày 21/01/2021 giao dịch tại đường Xuyên á. Đến khoảng 02 giờ ngày 21/01/2021, bị cáo điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu trắng, BKS 38A-219.54 đến điểm hẹn và gặp người đàn ông đã giao dịch mua bán pháo với mình trước đó. Bị cáo nhận 17 hộp pháo và giao cho người đàn ông đó 10.000.000 đồng. Sau khi giao nhận xong, bị cáo bỏ pháo vào trong cốp xe rồi điều khiển xe ô tô theo Quốc lộ 1A ra hướng Bắc. Khi đi đến trạm thu phí đường bộ TASCO, thuộc địa phận thôn Nam Lãnh, xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch thì bị lực lượng Công an huyện Quảng Trạch dừng xe ô tô BKS 38A-219.54 kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Xét thấy, lời khai nhận hành vi phạm tội trên của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với nhau; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Theo kết luận của cơ quan chuyên môn thì: Mẫu cần giám định là pháo nổ (loại pháo hoa nổ), tổng khối lượng 22,9 kg. Hành vi vận chuyển pháo nổ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hoàng Xuân H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng cấm; xâm phạm trật tự công cộng; gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được rõ hành vi vận chuyển hàng cấm của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện; chỉ vì nhu cầu, mục đích của bản thân đã coi thường pháp luật dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được việc làm sai trái của mình để có hướng khắc phục, sửa chữa lỗi lầm. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và quan điểm đề xuất giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định nên chưa cần thiết buộc phải cách ly ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình theo dõi, giám sát cũng đủ tính răn đe, giáo dục.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch đã tạm giữ vật chứng liên quan để điều tra và đã tiến hành xử lý trả lại 01 xe ô tô con màu trắng, nhãn hiệu Hyundai Accent BKS 38A-219.54 cho chủ sở hữu là chị Trần Thị T theo quy định của pháp luật. Đến tại phiên tòa không ai có ý kiến, yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 15 khối hình hộp, kích thước 14,5cm x 14,5cm x 12,5cm, bên trong khối có 36 vật hình trụ tròn, khối lượng 1,4 kg. Tổng khối lượng hoàn lại sau giám định là 20,1 kg; 01 bao tải màu trắng, cũ đã qua sử dụng. Xác định đây là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không còn giá trị, không sử dụng được nên căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Hoàng Xuân H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/7/2021.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Hoàng Xuân H cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 15 khối hình hộp, kích thước 14,5cm x 14,5cm x 12,5cm, bên trong khối có 36 vật hình trụ tròn, khối lượng 1,4 kg. Tổng khối lượng 20,1 kg; 01 bao tải màu trắng, cũ đã qua sử dụng.

Vật chứng trên có các đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 07/5/2021.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Xuân H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ