- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L xin ly hôn với anh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Thúy L:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 226 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HNGĐ-ST Ngày: 30-3-2021 V/v Tranh chấp HNGĐ - Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Nhã Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bé Hai.
2. Bà Hồ Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 635/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2021/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thúy L, sinh năm 2001.
Địa chỉ: ấp 2, xã A, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Lê Đức T, sinh năm 1997.
Địa chỉ: ấp 2, xã A, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm chị Võ Thị Thúy L là nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Chị L và anh T chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống làm cho hôn nhân bất hòa. Khi xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng có nói với gia đình nhà chồng nhưng gia đình nhà chồng bênh vực anh T nên giữa chị L và gia đình chồng cũng xảy ra mâu thuẫn. Anh T thì không giải quyết mâu thuẫn trong gia đình nên mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, không thể tiếp tục sống chung. Chị L về nhà cha mẹ đẻ sinh sống, đôi bên không có ý muốn hàn gắn tình cảm, vợ chồng không có liên lạc cho đến nay. Nay chị L nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị L yêu cầu xin ly hôn với anh T.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Kợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ.
Bị đơn là anh Lê Đức T đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của chị L nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
- Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:
+ Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao).
+ Giấy CMND và sổ hộ khẩu (Bản photo).
+ Đơn xin xác nhận nơi cư trú của chị Võ Thị Thúy L (bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Võ Thị Thúy L có đơn yêu cầu được ly hôn với anh Lê Đức T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn”.
Anh Lê Đức T là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ ở ấp 2, xã A, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Lê Đức T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-DS ngày 23/02/2021, Hội thẩm nhân dân là ông Phạm Phước Tâm. Tuy nhiên do ông Phạm Phước Tâm bận công tác đột xuất nên thay thế Hội thẩm nhân dân là ông Trần Văn Bé Hai. Đương sự có mặt đồng ý về sự thay đổi này và không có yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L, anh T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2019, do đó hôn nhân giữa chị L và anh T là hợp pháp. Chị L cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống làm cho hôn nhân bất hòa. Khi xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng có nói với gia đình nhà chồng nhưng gia đình nhà chồng bênh vực anh T nên giữa chị L và gia đình chồng cũng xảy ra mâu thuẫn. Anh T thì không giải quyết mâu thuẫn trong gia đình nên mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, không thể tiếp tục sống chung. Chị L về nhà cha mẹ đẻ sinh sống, không ai có ý muốn hàn gắn tình cảm và cũng không có liên lạc cho đến nay.
Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Lê Đức T tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị L. Xét thấy giữa chị L và anh T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Như vậy, mục đích hôn nhân của anh, chị không đạt được. Nay chị L yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ để chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị L và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị L.
- Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết; anh T không có ý kiến về vấn đề con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị L trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; anh T không có ý kiến về phần tài sản chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị L trình bày vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết; anh T không có ý kiến đối với phần nợ chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
* Về án phí:
Chị Võ Thị Thúy L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 226, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Thúy L:
- Về hôn nhân: Chị Võ Thị Thúy L được ly hôn với anh Lê Đức T.
- Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết; anh T không có ý kiến về vấn đề con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị L trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; anh T không có ý kiến về phần tài sản chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị L trình bày vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết; anh T không có ý kiến đối với phần nợ chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011945 ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy tiền án phí chị L đã nộp xong.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - Toà án Tỉnh; - UBND xã A, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Nhã Quyên |