- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T và anh P tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T được ly hôn anh Bùi Thanh P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HNGĐ-ST Ngày 24-11-2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D - THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Thành
Bà Trịnh Thị Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh – Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố H.
- Đại diện Vện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Trâm - Kiểm sát Vên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận D, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 96/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2021 về Vệc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 352/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị T; nơi cư trú: Phúc Hải 4, phường Đa Phúc, quận D, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Thanh P; nơi cư trú: Phúc Hải 4, phường Đa Phúc, quận D, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn là chị Lương Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 02 năm 2012 tại UBND phường Đa Phúc, quận D, thành phố H. Sau khi kết hôn, chị và anh P chung sống hạnh phúc được một thời gian thì hai vợ chồng mới xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nên thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên B nhưng tình cảm không hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị đã chuyển về nhà mẹ đẻ sống, hai vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2021. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị và anh P có 02 con chung là cháu Bùi Văn Thiên B, sinh ngày 03/10/2013 và cháu Bùi Tường V, sinh ngày 18/02/2016. Khi ly hôn chị đề nghị nhận nuôi cháu Bùi Tường V còn anh P sẽ nuôi cháu Bùi Văn Thiên B; vấn đề cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị tự nguyện nộp cả tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Bùi Thanh P trình bày: Vệc kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn như chị T trình bày là đúng. Tuy nhiên anh không muốn ly hôn, đề nghị Tòa án hòa giải để anh chị đoàn tụ.
Về con chung: Do anh có mong muốn đoàn tụ nên không có ý kiến về Vệc nuôi con chung. Trường hợp không đoàn tụ được, anh đề nghị được nuôi cả hai con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh về mâu thuẫn vợ chồng tại địa P nơi chị T và anh P sinh sống và hai bên gia đình thể hiện vợ chồng có mâu thuẫn và chị T hiện tại đã về nhà mẹ đẻ sinh sống.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị T vẫn kiên quyết đề nghị ly hôn, do đó Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử. Trước khi mở phiên tòa, anh P và chị T đã thỏa thuận thống nhất ly hôn sẽ giao hai con cho chị T nuôi dưỡng và cùng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Đại diện Vện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về Vệc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Vệc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về Vệc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị T được ly hôn anh P và giao hai con chung là cháu Bùi Văn Thiên B, sinh ngày 03/10/2013 và cháu Bùi Tường V, sinh ngày 18/02/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về Vệc cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung, chị T không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lương Thị T và anh Bùi Thanh P kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đa Phúc, quận D, thành phố H năm 2012; theo quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 103 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Lương Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D giải quyết Vệc ly hôn, anh Bùi Thanh P hiện đang cư trú tại phường Đa Phúc quận D, thành phố H, nên theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận D, thành phố H. Tại phiên tòa, cả chị T và anh P đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do dó Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt cả hai bên theo quy định tại Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lương Thị T và anh Bùi Thanh P xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật hôn nhân và gia đình. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và B vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Hiện tại, chị T đã về nhà nhà mẹ đẻ sống. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ qua lời khai của gia đình, chính quyền địa P xác định: Chị T và anh P có xảy ra mâu thuẫn. Hiện tại, chị T và anh P đã sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra Vệc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh P mong muốn đoàn tụ song chị T vẫn kiên quyết ly hôn. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công Vệc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế, đủ cơ sở xác định hai bên đã V phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị T về Vệc ly hôn anh P là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.
- Về con chung:
Chị T và anh P có 02 con chung là cháu Bùi Văn Thiên B, sinh ngày 03/10/2013 và cháu Bùi Tường V, sinh ngày 18/02/2016. Trong quá trình giải quyết, cả chị T và anh P đề nghị nhận nuôi cả hai con chung. Ngày 22/11/2021, chị T và anh P đã thống nhất để cả hai con chung cho chị T nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Vệc giao con chung cho bố hay mẹ trực tiếp nuôi con khi ly hôn cần xem xét quyền lợi mọi mặt của con; hai cháu từ khi chị T và anh P ly thân vẫn ở với chị T, sinh hoạt các cháu vẫn ổn định; điều kiện thu nhập của chị T cũng đảm B cho Vệc nuôi cả hai con. Do đó, yêu cầu của chị T là phù hợp với thực tế, đảm B quyền và lợi ích hợp pháp của con, phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị T chưa có yêu cầu nên tạm hoãn Vệc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi chị có yêu cầu.
- Về tài sản chung:
Chị T và anh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Chị T và anh P được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
T xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T được ly hôn anh Bùi Thanh P.
2. Về con chung: Giao cho chị Lương Thị T trực tiếp nuôi hai con chung là Bùi Văn Thiên B, sinh ngày 03/10/2013 và cháu Bùi Tường V, sinh ngày 18/02/2016 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn Vệc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bùi Thanh P cho đến khi chị T có yêu cầu.
Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong Vệc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chị T và anh P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Tạm hoãn Vệc yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng cho đến khi anh P và chị T có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Lương Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0003504 ngày 08/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố H. Chị Lương Thị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Lương Thị T và anh Bùi Thanh P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận D; - VKSND TP H; - Tòa án nhân dân TP H; - Chi cục THADS quận D; - UBND phường Đa Phúc, quận D, tp H (ĐKKH số 17/2012.Q01/2012); - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Quang Trung |