vanban.org

Bản án 29/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật

Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị P N ly hôn với ông Phạm Trọng L"
  • Tòa quyết gì? luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tư.

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 59/2021/TLST-

HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số 36/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2021, giữa

các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phượng N - Sinh năm 1997 - Địa chỉ: ấp A,

xã B, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Trọng L - Sinh năm 1995 - Địa chỉ: ấp M, xã G,

huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/02/2021, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn

bà Nguyễn Thị Phượng N trình bày:

Bà và ông Phạm Trọng L xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn

ngày 12/12/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh

Long An. Chung sống hạnh phúc chưa được một năm thì xảy ra mâu thuẫn,

nguyên nhân do ông L không lo làm ăn, sử dụng ma túy. Hiện bà và ông L sống

ly thân từ năm 2020 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Phạm Trọng L.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Phạm Minh H, sinh ngày

13/6/2016, hiện đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Nguyên đơn bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông L vắng mặt tại

phiên tòa không có lý do lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Nguyễn Thị Phượng N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phạm Trọng

L có nơi cư trú hiện tại ở ấp 2, xã Bình Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông L được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông

không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà Nguyễn Thị Phượng N và ông Phạm Trọng L chung sống có đăng

ký kết hôn ngày 12/12/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã Bình Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử nhận định: Bà N cho

rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do ông L không lo làm ăn, sử dụng ma túy. Ông L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không có căn cứ xem xét; qua lời trình bày của bà N cho thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà N yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung Phạm Minh H của bà

N, Hội đồng xét xử nhận định: từ khi bà N và ông L sống ly thân con chung do bà N nuôi dưỡng, ông L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không tranh chấp về quyền nuôi con chung. Vì vậy, nhằm tránh sự ảnh hưởng về tâm lý

con chung và đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của con chung nên giao con

chung cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014.

Xét việc bà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung là tự

nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Về chia tài sản chung và nợ chung: bà N trình bày không có, không

yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội, xét thấy:

Bà N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án

phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp. Bà N đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ

luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật

Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phượng N được ly hôn với ông Phạm

Trọng L.

2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Phượng N được quyền trực tiếp

nuôi con chung tên Phạm Minh H, sinh ngày 13/6/2016, hiện đang sống với bà

N. Ông Phạm Trọng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông L được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi

ích con chung, bà N và ông L có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và

yêu cầu thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Phượng N phải chịu 300.000

đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm

ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0009129 ngày 23/3/2021

của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà N đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo

thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ