- Tranh chấp gì? án hành chính — "Đoàn Văn T - Khiếu kiện các Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn T yêu cầu hủy Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T ở thôn Hữu Thành, xã PH để thực hiện công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia…
- Căn cứ chính? Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT Quy định về hồ sơ giao đất, cho…; Quyết định số 34/2014/QĐ-UBND Về việc ban hành Bảng giá các…; Thông tư số 60/2014/TT-BCA Quy định biểu mẫu sử dụng trong h…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HC-ST Ngày: 23-9-2021 V/v khiếu kiện các Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
ơ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Phùng.
Ông Dương Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2020/TLST-HC ngày 07 tháng 10 năm 2020 về việc “Khiếu kiện các Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2021/QĐXXST-HC ngày 10 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1960; cư trú tại thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện TP;
2. Uỷ ban nhân dân huyện TP;
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Đình Th - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định. Nay ông Huỳnh Nam - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định là người đại diện theo pháp luật; có đơn xin vắng mặt.
là người đại diện theo pháp luật; có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh;
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Nguyên S - Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh là người đại diện theo ủy quyền; có đơn xin vắng mặt;
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PH;
3. Ủy ban nhân dân xã PH;
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Thanh V - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định là người đại diện theo pháp luật; có đơn xin vắng mặt;
4. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1931; cư trú tại thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định; có đơn xin vắng mặt;
5. Anh Đoàn Tế L, sinh năm 1998; có đơn xin vắng mặt;
6. Chị Đoàn Thị Thu Ta, sinh năm 1995; có đơn xin vắng mặt;
7. Ông Đoàn Văn X, sinh năm 1972; có đơn xin vắng mặt;
8. Ông Đoàn Văn P, sinh năm 1973; có đơn xin vắng mặt;
9. Bà Võ Thị H, sinh năm 1962; có đơn xin vắng mặt;
Đồng cư trú tại thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định;
10. Bà Đoàn Thị Mỹ Ho, sinh năm 1970; cư trú tại thôn Tân Giản, xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định; có đơn xin vắng mặt;
11. Anh Đoàn Tấn Ph, sinh năm 1985; cư trú tại số nhà 04 đường N4, khu phố 5, P. Hiệp Thành, TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt;
12. Chị Đoàn Thị Mỹ D, sinh năm 1989; cư trú tại thôn Tân Tiến, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định; có đơn xin vắng mặt;
13. Ông Đoàn Văn Ha, sinh năm 1962; cư trú tại thôn Lương Bình, xã Phước Thắng, huyện TP, tỉnh Bình Định; có mặt;
14. Ông Đoàn Văn N, sinh năm 1968; cư trú tại thôn Tân Lễ, xã Phước Hiệp, huyện TP, tỉnh Bình Định; có đơn xin vắng mặt;
15. Chị Đoàn Thị Mỹ Tuyết Ng, sinh năm 1975; cư trú tại khối 9, thị trấn Đắk Min, huyện Đắk Min, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin vắng mặt;
16. Anh Đoàn Hữu Đ, sinh năm 1976; cư trú tại số nhà 109K đường Hải Thượng Lãng Ông, P. Mỹ Đông, thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo “Đơn khởi kiện” ngày 30/7/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người khởi kiện ông Đoàn Văn T trình bày:
Nguyên thửa đất số 628, diện tích 1.559m2, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định chủ hộ là ông Đoàn Văn T do ông bà để lại từ trước năm 1960 và không ai tranh chấp.
Theo bản đồ địa chính xã PH năm 1993 thì thửa đất nói trên gồm 02 thửa: Thửa số 155, diện tích 880m2 (chủ hộ là ông Đoàn Văn T) và thửa 156, diện tích 490m2 (chủ hộ là bà Phạm Thị H - mẹ của ông T). Đến năm 2013 thì Ủy ban nhân dân (nay viết tắt là UBND) xã PH xác lập thành 01 thửa 628 nói trên (diện tích mới nhiều hơn diện tích cũ là 189m2).
Năm 2019, thực hiện chủ trương thu hồi đất đợt 3 để nâng cấp mới đập dâng Nha Phu và gia cố xói lở 02 bên bờ thượng hạ lưu và tràn bên. Vì vậy, UBND huyện TP đã thu hồi đất một số hộ ở ven sông, trong số đó có hộ ông T với diện tích bị thu hồi 712,6m2, gồm 143,5m2 đất ở và 569,1m2 đất trồng cây lâu năm.
Ngày 30/10/2019 ông T nhận được Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ GPMB ngày 21/10/2019 với tổng số tiền: 167.299.600 đồng (gồm cây cối, vật kiến trúc, đất vườn và đất ở).
Không đồng ý với bảng giá trên nên ông T chưa nhận tiền vì giá quá thấp và thu hồi đất quá nhiều.
Ngày 13/3/2020, ông T nhận được Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND huyện TP với nội dung thu hồi đất của ông T: 712,6m2 gồm 143,5m2 đất ở và 569,1m2 đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa đất số 628, tờ bản đồ số 9 nói trên.
Không đồng ý với Quyết định số 8197/QĐ-UBND nói trên nên ngày 04/3/2020 ông T đã khiếu nại đến UBND huyện TP. Đến ngày 10/6/2020, ông T tiếp tục nhận Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện TP về việc không chấp nhận giải quyết khiếu nại của ông T.
Tiếp đến ngày 10/7/2020 ông T nhận được Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch UBND huyện TP về việc cưỡng chế thu hồi đất của ông T.
Cho rằng quyền lợi và tài sản đã bị xâm phạm nên ngày 30/7/2021 ông T đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định hủy Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T ở thôn Hữu Thành, xã PH để thực hiện công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên (đợt 3) tại xã PH, huyện TP (nay viết tắt là QĐ 8197); hủy Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP (lần đầu) (nay viết tắt là QĐ 3091) và hủy Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Đoàn Văn T thường trú tại thôn Hữu Thành, xã PH (nay viết tắt là 4654).
Cùng với đơn khởi kiện vụ án hành chính và đơn khởi kiện bổ sung, bản sao các quyết định hành chính bị kiện, ông T còn cung cấp cho Tòa án một số tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đến yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, ông T không tự mình thu thập được bất kỳ chứng cứ nào khác và ông T có yêu cầu Tòa án thu thập thêm một số tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án.
- Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện là UBND huyện TP và Chủ tịch UBND huyện TP, tỉnh Bình Định, ông Nguyễn Đình Th - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định và ông Huỳnh N - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định trình bày:
Thực hiện dự án công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 02 bờ thượng hạ lưu và tràn bên (đợt 3) tại xã PH, huyện TP thuộc dự án: Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định; Theo Quyết định số 1105/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định v/v phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình và Quyết định số 3370/QĐ-UBND ngày 03/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định v/v phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự toán Hạng mục: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên dự án thành phần: Sữa chữa, nâng cấp các đập dâng dự án: Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định. Theo đó, hộ ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH bị ảnh hưởng thửa đất số 628/1559 m2, tờ bản đồ số 9, diện tích thu hồi 712,6 m2 (gồm 143,5 m2 đất ở nông thôn (ONT) và 569,1 m2 đất trồng cây hàng năm khác (HNK), được UBND huyện TP thu hồi đất tại Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T và phê duyệt phương án giá trị bồi thường tại Quyết định số 8691/QĐ-UBND ngày 17/12/2019 là 167.300.000 đồng. Tuy nhiên, hộ ông Đoàn Văn T không đồng ý nhận tiền bồi thường và có đơn khiếu nại ngày 02/3/2020, 04/3/2020, 27/3/2020, trong đó nội dung đơn như sau:
1. Bồi thường giá đất theo giá thỏa thuận ngang bằng với giá trị trường tại địa phương;
2. Hỗ trợ khoản tiền chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 tổng giá trị tiền đất nông nghiệp được bồi thường;
3. Đề nghị họp trực tiếp người dân để lấy ý kiến về phương án bồi thường.
4. Chỉ bồi thường và thu hồi đất phạm vi từ vị trí mốc tuyến khảo sát trở ra sông, chiều rộng khoảng 8m, diện tích thu hồi khoảng 240m2;
5. Đề nghị tách và lập thủ tục thu hồi đất riêng cho thửa đất số 156/490m2 theo bản đồ năm 1993, chủ sử dụng là mẹ ông T.
Theo nội dung đơn khiếu nại của hộ ông Đoàn Văn T nêu trên, UBND huyện TP đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 v/v giải quyết đơn khiếu nại của ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH, như sau:
- Đối với nội dung 1: Căn cứ Điều 74 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ngày 14/2/2019 của UBND tỉnh Bình Định, việc bồi thường giá đất theo bảng giá đất kèm theo Quyết định số 34/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Bình Định là đúng quy định. Nội dung này, Tổ công tác (theo Quyết định số 169/QĐ-UBND ngày 14/01/2019) đã giải thích rõ với hộ ông Đoàn Văn T và theo biên bản cuộc họp ngày 23/4/2020.
- Đối với nội dung 2: Căn cứ khoản 1 Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 36 Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ngày 14/2/2019 của UBND tỉnh Bình Định, việc áp dụng hỗ trợ đất nông nghiệp bằng 03 lần giá đất là đúng theo quy định về chính sách bồi thường của UBND tỉnh Bình Định. Nội dung này, Tổ công tác (theo Quyết định số 169/QĐ-UBND ngày 14/01/2019) đã giải thích rõ với hộ ông Đoàn Văn T và theo biên bản cuộc họp ngày 23/4/2020.
- Đối với nội dung 3: Căn cứ Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, Hội đồng bồi thường và Tổ công tác trong quá trình thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục, hồ sơ theo quy định của pháp luật. Nội dung này, Tổ công tác đã giải thích rõ với hộ ông Đoàn Văn T và theo biên bản cuộc họp ngày 23/4/2020.
Các nội dung này ông T đã hiểu, thống nhất không khiếu nại, nhưng ông T không ký biên bản.
- Đối với nội dung 4 “Chỉ bồi thường và thu hồi đất phạm vi từ vị trí mốc tuyến khảo sát trở ra sông, chiều rộng khoảng 8m, diện tích thu hồi khoảng 240m2”:
Hộ ông Đoàn Văn T bị ảnh hưởng thửa đất số 628/1.559 m2, tờ bản đồ số 9, diện tích thu hồi 712,6 m2 (gồm 143,5 m2 đất ở nông thôn (ONT) và 569,1 m2 đất trồng cây hàng năm khác (HNK), giá trị bồi thường về đất, cây trồng trên đất và các tài sản trên đất được phê duyệt tại Quyết định số 8691/QĐ-UBND ngày 17/12/2019 là 167.300.000 đồng. Ranh giới và phạm vi thu hồi đất được thực hiện theo hồ sơ thiết kế đã được UBND tỉnh Bình Định phê tại Quyết định số 3370/QĐ-UBND ngày 03/10/2018 về việc phê duyệt Thiết kế bản vẽ thi công và dự toán, hạng mục Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên, đảm bảo nhiệm vụ tăng cường tiêu thoát lũ, bảo vệ khu dân cư trong vùng trong điều kiện đập Nha Phu mới được xây dựng mở rộng, góp phần cải tảo môi trường, chỉnh trang bộ mặt nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Việc bồi thường về đất căn cứ vào loại đất đã được UBND xã PH xác nhận. Tuy nhiên, theo yêu cầu của hộ ông T, ông chỉ chấp nhận thu hồi một phần đất khoảng 240m2(theo phạm vị từ mốc tuyến khảo sát trở ra sông, khoảng 8m), đối với phần đất thu hồi còn lại (theo phạm vị từ mốc tuyến khảo sát đến ranh giới thu hồi, khoảng 14m) phải bồi thường theo giá thỏa thuận với giá thị trường ở khu vực. Từ những nội dung trên, việc ông Đoàn Văn T kiến nghị như trên là không có cơ sở để xem xét, giải quyết.
- Đối với nội dung 5 “Đề nghị tách và lập thủ tục thu hồi đất riêng cho thửa đất số 156/490m2 theo bản đồ năm 1993, chủ sử dụng là mẹ ông T”:
Căn cứ vào hồ sơ địa chính năm 2013, thửa đất bị ảnh hưởng là thửa số 628/1559m2, tờ bản đồ số 9, tên chủ sử dụng là ông Đoàn Văn T. Qua kiểm tra hồ sơ địa chính và hiện trạng sử dụng đất, theo hồ sơ năm 1993 gồm thửa số 156/490m2 (tờ bản đồ số 17), đăng ký chủ sử dụng là Phạm Thị H (mẹ ông T) và thửa số 155/880m2 (tờ bản đồ số 17), đăng ký chủ sử dụng Đoàn Văn T. Theo hồ sơ địa chính năm 2013, đã nhập chung thành thửa đất số 628/1559m2, tờ bản đồ số 9 do trong quá trình sử dụng đất hai hộ đã phá dỡ ranh giới, xác nhập chung thửa và đăng ký tên chủ sử dụng là ông Đoàn Văn T, đồng thời các thửa đất này chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, việc căn cứ vào bản đồ địa chính năm 2013 để thực hiện thủ tục thu hồi đất là có cơ sở, phù hợp theo quy định. Trong quá trình thực hiện kiểm đếm tài sản trên đất và thực hiện các thủ tục thu hồi đất, tính toán bồi thường hộ không có ý kiến về nội dung này. Tuy nhiên, qua các cuộc họp vận động, các bên liên quan cũng đã giải thích rõ việc tách hay không tách thửa để thực hiện thủ tục thu hồi đất không ảnh hưởng đến việc áp dụng chính sách bồi thường, không tăng thêm giá trị bồi thường hỗ trợ mà vẫn đảm bảo quyền lợi của các hộ liên quan. Hơn nữa so sánh tổng diện tích đất của các thửa theo hồ sơ địa chính năm 1993 (02 thửa có tổng diện tích) là 1.370 m2; trong khi đó diện tích đo đạc theo hồ sơ địa chính năm 2013 có tổng diện tích là 1.559 m2 (hồ sơ địa chính năm 2013 tăng 189 m2 so với hồ sơ địa chính năm 1993).
Sau khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại, ông Đoàn Văn T vẫn không thống nhất, do đó để đảm bảo tiến độ thực hiện dự án UBND huyện TP đã củng cố hồ sơ, ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối vói hộ ông Đoàn Văn T tại Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020. UBND huyện TP có Văn bản số 855/UBND-TNMT ngày 07/7/2020 về việc cưỡng chế và bảo vệ thi công để thực hiện dự án: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên tại xã PH, giao UBND xã PH và các cơ quan ban ngành liên quan của huyện tổ chức thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn T, UBND huyện TP và Chủ tịch UBND huyện TP đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định, ông Huỳnh Thanh V - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định trình bày: Ông thống nhất với nội dung trình bày của ông Nguyễn Đình Th - Chủ tịch UBND huyện TP, tỉnh Bình Định.
Ngoài ra, sau khi UBND huyện TP, tỉnh Bình Định ban hành Văn bản số 855/UBND-TNMT ngày 07/7/2020 về việc cưỡng chế và bảo vệ thi công để thực hiện dự án: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên tại xã PH thì UBND xã PH đã phối hợp với Ban quản lý dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh và các cơ quan ban ngành liên quan của huyện tổ chức thực hiện bảo vệ thi công theo tinh thần chỉ đạo tại Văn bản số 855/UBND-TNMT nói trên.
Như vậy, với yêu cầu khởi kiện của ông T, UBND xã PH, huyện TP đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, UBND xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định không có yêu cầu hoặc trình bày nào khác.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định, ông Hồ Nguyên S - Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định trình bày:
Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định là chủ đầu tư thực hiện hạng mục Xây dựng mới đập Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên thuộc dự án khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định được UBND tỉnh Bình Định phê duyệt dự án đầu tư tại Quyết định số 1063/QĐ-UBND ngày 28/3/2017. UBND huyện TP thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng theo Quyết định số 169/QĐ-UBND ngày 14/01/2019. Trên cơ sở đó, Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định đã phối hợp với UBND huyện TP và UBND xã PH tổ chức thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để thi công xây dựng công trình theo quy định, được UBND huyện TP phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các Quyết định số 792/QĐ-UBND ngày 13/3/2019 (Đợt 1), Quyết định số 4908/QĐ-UBND ngày 29/7/2019 (Đợt 2), Quyết định số 8691/QĐ-UBND ngày 17/12/2019 (Đợt 3).
Hộ ông T bị ảnh hưởng thu hồi 712,6m2 đất (gồm 143,5m2 đất ở nông thôn (ONT) và 569,1 m2 đất trồng cây hàng năm khác (HNK)) và tài sản trên đất, thuộc thửa đất có số thửa đất là 628, tờ bản đồ số 9 (tổng diện tích thửa đất là 1.559m2); tổng giá trị bồi thường được phê duyệt tại Quyết định số 8691/QĐ-UBND ngày 17/12/2019 là 167.300.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hộ ông Đoàn Văn T không đồng ý nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng để triển khai xây dựng công trình và có đơn kiến nghị ngày 04/3/2020, trong đó nội dung đơn kiến nghị như sau: (i) Bồi thường giá đất theo giá thỏa thuận ngang bằng với giá trị trường tại địa phương; (ii) Hỗ trợ khoản tiền chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 tổng giá trị tiền đất nông nghiệp được bồi thường; (iii) Đề nghị họp trực tiếp người dân để lấy ý kiến về phương án bồi thường; (iv) Chỉ bồi thường và thu hồi đất phạm vi từ vị trí mốc tuyến khảo sát trở ra sông, chiều rộng khoảng 8m, diện tích thu hồi khoảng 240m2; (v) Đề nghị tách và lập thủ tục thu hồi đất riêng cho thửa đất số 156/490m2 theo bản đồ năm 1993, chủ sử dụng là mẹ ông T.
Theo các nội dung cuộc họp giữa đại diện Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Tuy Phước, UBND xã PH, Ban quản lý dự án nông nghiệp và phát triển tỉnh Bình Định và đại diện hộ dân các bên liên quan đã giải thích một số nội dung liên quan đến chính sách bồi thường, phạm vi thu hồi đất, đối tượng thu hồi đất và giá trị bồi thường. Nội dung đơn kiến nghị của hộ ông T đã được UBND huyện TP trả lời tại Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020.
Đê công trình thi công và hoàn thành đúng tiến độ, UBND huyện TP đã chỉ đạo UBND xã PH thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định, ban hành Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông T và tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông T.
Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, Ban quản lý dự án nông nghiệp và phát triển tỉnh Bình Định đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H, anh Đoàn Tế L, chị Đoàn Thị Thu Ta, ông Đoàn Văn X, ông Đoàn Văn P, bà Võ Thị Ha, bà Đoàn Thị Mỹ Ho, anh Đoàn Tấn Ph, chị Đoàn Thị Mỹ D, ông Đoàn Văn H, ông Đoàn Văn N, chị Đoàn Thị Mỹ Tuyết Ng, anh Đoàn Hữu Đ thống nhất trình bày: Đều thống nhất như ý kiến và yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn T. Ngoài ra, các ông, bà không có yêu cầu hoặc trình bày nào khác.
* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính nhưng có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn T tuyên hủy toàn bộ Quyết định giải quyết khiếu nại số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện TP để giải quyết lại đầy đủ các yêu cầu khiếu nại của ông Đoàn Văn T.
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng người khởi kiện ông Đoàn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; đại diện theo pháp luật của người bị kiện vẫn giữ nguyên các Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T ở thôn Hữu Thành, xã PH để thực hiện công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên (đợt 3) tại xã PH, huyện TP; Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP (lần đầu) và Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Đoàn Văn T thường trú tại thôn Hữu Thành, xã PH và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có các yêu cầu độc lập nào khác.
Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hành chính để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định đối với yêu cầu của người khởi kiện ông Đoàn Văn T theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, các quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính nhận thấy:
. Về thủ tục tố tụng:
Ngày 21/9/2021, ông Huỳnh Nam - Chủ tịch UBND huyện TP, tỉnh Bình Định, ông Hồ Nguyên S - Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định, ông Huỳnh Thanh V - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PH, huyện TP, tỉnh Bình Định đều có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt; bà Phạm Thị H, anh Đoàn Tế L, chị Đoàn Thị Thu Ta, ông Đoàn Văn X, ông Đoàn Văn P, bà Võ Thị Ha, bà Đoàn Thị Mỹ Ho, anh Đoàn Tấn P, chị Đoàn Thị Mỹ D, ông Đoàn Văn N, chị Đoàn Thị Mỹ Tuyết Ng và anh Đoàn Hữu Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 157, 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.
Ngày 20/11/2019, Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 8197/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T ở thôn Hữu Thành, xã PH để thực hiện công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên (đợt 3) tại xã PH, huyện TP; ngày 21/5/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 3091/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP (lần đầu) và ngày 03/7/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 4654/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Đoàn Văn T thường trú tại thôn Hữu Thành, xã PH
Các Quyết định về việc thu hồi đất; Quyết định về việc giải quyết khiếu nại và Quyết định về việc cưỡng chế thu hồi đất nói trên là Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.
Khi nhận được và biết các Quyết định trên, cho rằng các Quyết định này là trái pháp luật vì xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đoàn Văn T. Do đó, ngày 30/7/2020 ông Đoàn Văn T có đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T ở thôn Hữu Thành, xã PH để thực hiện công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên (đợt 3) tại xã PH, huyện TP; hủy Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP (lần đầu) và hủy Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Đoàn Văn T thường trú tại thôn Hữu Thành, xã PH là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
. Về nội dung:
. Về thời hiệu, hình thức, trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành các QĐ 8197, QĐ 3091 và QĐ 4654:
- Về thời hiệu:
+ Căn cứ quy định tại Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013, thì UBND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 và Chủ tịch UBND huyện TP, tỉnh Bình Định ban hành Quyết định 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 là đúng thời hiệu, thời hạn ban hành.
+ Căn cứ quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011, thì Chủ tịch UBND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 là đúng thời hiệu, thời hạn ban hành.
- Về hình thức:
+ Căn cứ vào Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013 thì Quyết định về việc thu hồi đất và Quyết định về việc cưỡng chế thu hồi đất nói trên được ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ tài nguyên và môi trường, thì hình thức văn bản của Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND huyện TP và Quyết định 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch UBND huyện TP, tỉnh Bình Định được ban hành đúng quy định của pháp luật.
+ Căn cứ quy định tại Điều 31 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011 và Quyết định khiếu nại lần đầu được Ban hành kèm theo Thông tư số 60/2014/TT-BCA ngày 18/11/2014 của Bộ Công an thì hình thức văn bản của Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định được ban hành đúng quy định của pháp luật.
- Về trình tự thủ tục:
+ Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND huyện TP và Quyết định 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch UBND huyện TP, tỉnh Bình Định được ban hành đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định chi tiết thi hành Luật đất đai; Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; Quyết định số 2564/QĐ-UBND ngày 17/8/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về việc ủy quyền thực hiện thu hồi đất; Quyết định số 1105/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng dự án thành phần: Sửa chữa, nâng cấp các Đập dâng dự án: Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định; Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ; Quyết định số 34/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014; Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ngày 14/02/2019 của UBND tỉnh quy định về giá đất, áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ về đất đai bị thu hồi trên địa bàn tỉnh Bình Định đã lập phương án giá trị bồi thường, hỗ trợ và chi phí GPMB để thực hiện hạng mục (đợt 3) đã được phê duyệt cho các hộ bị ảnh hưởng; Quyết định số 3370/QĐ-UBND ngày 03/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về việc phê duyệt Thiết kế bản vẽ thi công và dự toán Hạng mục: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên; Dự án thành phần: Sửa chữa, nâng cấp các Đập dâng thuộc Dụ án: Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định trên địa bàn huyện TP; Quyết định số 1072/QĐ-UBND ngày 02/4/2019 của UBND tỉnh Bình về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2019 huyện TP;
+ Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về giải quyết khiếu nại lần đầu được ban hành đúng trình tự, thủ tục được quy định tại các Điều 27, 29, 30, 32 Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại ngày 11/11/2011; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ, quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.
- Về thẩm quyền:
+ Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về giải quyết khiếu nại lần đầu trong lĩnh vực quản lý đất đai khi người khiếu nại ông Đoàn Văn T không đồng ý với việc thu hồi đất theo Quyết định số 8197/QĐ-UBND nói trên.
Căn cứ quy định tại Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Luật đất đai ngày 29/11/2013; Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 thì ông Nguyễn Đình Thuận ký ban hành Quyết định nói trên là đúng quy định.
+ Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 về việc thu hồi đất của UBND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch UBND huyện TP, tỉnh Bình Định được ban hành là đúng quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật đất đai ngày 29/11/2013.
[2. 2]. Về tính hợp pháp và có căn cứ của các QĐ 8197, QĐ 3091 và QĐ 4654:
Về nguồn gốc đất: Căn cứ vào hồ sơ địa chính năm 2013, thửa đất bị ảnh hưởng là thửa số 628/1559m2, tờ bản đồ số 9, tên chủ sử dụng là ông Đoàn Văn T. Qua kiểm tra hồ sơ địa chính và hiện trạng sử dụng đất, theo hồ sơ năm 1993 gồm thửa số 156/490m2 (tờ bản đồ số 17), đăng ký chủ sử dụng là Phạm Thị H (mẹ ông T) và thửa số 155/880m2 (tờ bản đồ số 17), đăng ký chủ sử dụng Đoàn Văn T. Theo hồ sơ địa chính năm 2013, đã nhập chung thành thửa đất số 628/1559m2, tờ bản đồ số 9 do trong quá trình sử dụng đất hai hộ đã phá dỡ ranh giới, xác nhập chung thửa và đăng ký tên chủ sử dụng là ông Đoàn Văn T, đồng thời các thửa đất này chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hơn nữa, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định thì 02 thửa đất số 155, 156 tờ bản đồ số 17 (được tách ra từ thửa đất số 628, tờ bản đồ số 9) theo đơn yêu cầu của ông Đoàn Văn T) không có ranh giới từng thửa đất mà trở thành một thửa đất chung, hiện tại ông Đòa Văn T ở chung nhà với bà Phạm Thị H.
Nên thực hiện dự án công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 02 bờ thượng hạ lưu và tràn bên (đợt 3) tại xã PH, huyện TP thuộc dự án: Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định; Theo Quyết định số 1105/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định v/v phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình và Quyết định số 3370/QĐ-UBND ngày 03/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định v/v phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự toán Hạng mục: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên dự án thành phần: Sữa chữa, nâng cấp các đập dâng dự án: Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định. Theo đó, hộ ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH bị ảnh hưởng thửa đất số 628/1559 m2, tờ bản đồ số 9, diện tích thu hồi 712,6 m2 (gồm 143,5 m2 đất ở nông thôn (ONT) và 569,1 m2 đất trồng cây hàng năm khác (HNK),
Trong quá trình thực hiện kiểm đếm tài sản trên đất và thực hiện các thủ tục thu hồi đất, tính toán bồi thường hộ không có ý kiến về nội dung này. Tuy nhiên, qua các cuộc họp vận động, các bên liên quan cũng đã giải thích rõ việc tách hay không tách thửa để thực hiện thủ tục thu hồi đất không ảnh hưởng đến việc áp dụng chính sách bồi thường, không tăng thêm giá trị bồi thường hỗ trợ và vẫn đảm bảo quyền lợi của các hộ liên quan. Đồng thời, so sánh tổng diện tích đất của các thửa theo hồ sơ địa chính năm 1993 (02 thửa có tổng diện tích) là 1.370 m2; trong khi đó diện tích đo đạc theo hồ sơ địa chính năm 2013 có tổng diện tích là 1.559 m2 (hồ sơ địa chính năm 2013 tăng 189 m2 so với hồ sơ địa chính năm 1993).
Nên ngày 20/11/2019, UBND huyện TP ban hành Quyết định số 8197/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T và phê duyệt phương án giá trị bồi thường tại Quyết định số 8691/QĐ-UBND ngày 17/12/2019 là 167.300.000 đồng. Tuy nhiên, hộ ông Đoàn Văn T không đồng ý nhận tiền bồi thường và có đơn khiếu nại ngày 02/3/2020, 04/3/2020, 27/3/2020, trong đó nội dung đơn như sau:
1. Bồi thường giá đất theo giá thỏa thuận ngang bằng với giá trị trường tại địa phương;
2. Hỗ trợ khoản tiền chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 tổng giá trị tiền đất nông nghiệp được bồi thường;
3. Đề nghị họp trực tiếp người dân để lấy ý kiến về phương án bồi thường.
4. Chỉ bồi thường và thu hồi đất phạm vi từ vị trí mốc tuyến khảo sát trở ra sông, chiều rộng khoảng 8m, diện tích thu hồi khoảng 240m2;
5. Đề nghị tách và lập thủ tục thu hồi đất riêng cho thửa đất số 156/490m2 theo bản đồ năm 1993, chủ sử dụng là mẹ ông T.
Theo nội dung đơn khiếu nại của hộ ông Đoàn Văn T nêu trên, UBND huyện TP đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 v/v giải quyết đơn khiếu nại của ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH với các nội dung:
- Căn cứ Điều 74 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ngày 14/2/2019 của UBND tỉnh Bình Định, việc bồi thường giá đất theo bảng giá đất kèm theo Quyết định số 34/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Bình Định là đúng quy định.
- Căn cứ khoản 1 Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 36 Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ngày 14/2/2019 của UBND tỉnh Bình Định, việc áp dụng hỗ trợ đất nông nghiệp bằng 03 lần giá đất là đúng theo quy định về chính sách bồi thường của UBND tỉnh Bình Định.
- Căn cứ Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, Hội đồng bồi thường và Tổ công tác trong quá trình thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục, hồ sơ theo quy định của pháp luật.
- Hộ ông Đoàn Văn T bị ảnh hưởng thửa đất số 628/1.559 m2, tờ bản đồ số 9, diện tích thu hồi 712,6 m2 (gồm 143,5 m2 đất ở nông thôn (ONT) và 569,1 m2 đất trồng cây hàng năm khác (HNK), giá trị bồi thường về đất, cây trồng trên đất và các tài sản trên đất được phê duyệt tại Quyết định số 8691/QĐ-UBND ngày 17/12/2019 là 167.300.000 đồng. Ranh giới và phạm vi thu hồi đất được thực hiện theo hồ sơ thiết đã được UBND tỉnh Bình Định phê tại Quyết định số 3370/QĐ-UBND ngày 03/10/2018 về việc phê duyệt Thiết kế bản vẽ thi công và dự toán, hạng mục Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên, đảm bảo nhiệm vụ tăng cường tiêu thoát lũ, bảo vệ khu dân cư trong vùng trong điều kiện đập Nha Phu mới được xây dựng mở rộng, góp phần cải tảo môi trường, chỉnh trang bộ mặt nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Việc bồi thường về đất căn cứ vào loại đất đã được UBND xã PH xác nhận. Tuy nhiên, theo yêu cầu của hộ ông T, ông chỉ chấp nhận thu hồi một phần đất khoảng 240m2 (theo phạm vị từ mốc tuyến khảo sát trở ra sông, khoảng 8m), đối với phần đất thu hồi còn lại (theo phạm vị từ mốc tuyến khảo sát đến ranh giới thu hồi, khoảng 14m) phải bồi thường theo giá thỏa thuận với giá thị trường ở khu vực. Từ những nội dung trên, việc ông Đoàn Văn T kiến nghị như trên là không có cơ sở để xem xét, giải quyết.
Sau khi nhận Quyết định giải quyết khiếu nại số 3091/QĐ-UBND nói trên nhưng ông Đoàn Văn T vẫn không thống nhất, do đó để đảm bảo tiến độ thực hiện dự án ngày 03/7/2020 Chủ tịch UBND huyện TP, tỉnh Bình Định đã ban hành Quyết định số 4654/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ của ông Đoàn Văn T.
Do đó, việc ban hành các QĐ 9197, QĐ 3091 và QĐ 4654 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nói trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận các nội dung khởi kiện của Đoàn Văn T yêu cầu hủy Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T ở thôn Hữu Thành, xã PH để thực hiện công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên (đợt 3) tại xã PH, huyện TP; hủy Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP (lần đầu) và hủy Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Đoàn Văn T thường trú tại thôn Hữu Thành, xã PH.
. Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn T tuyên hủy Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện TP về việc giải quyết khiếu nại nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Ông Đoàn Văn T thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn không phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ông Đoàn Văn T phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ quy định tại các Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 157; Điều 158; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193 và Điều 194 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
- Căn cứ quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013; Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định chi tiết thi hành Luật đất đai; Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; Quyết định số 2564/QĐ-UBND ngày 17/8/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về việc ủy quyền thực hiện thu hồi đất; Quyết định số 1105/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng dự án thành phần: Sửa chữa, nâng cấp các Đập dâng dự án: Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định; Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; Quyết định số 3370/QĐ-UBND ngày 03/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về việc phê duyệt Thiết kế bản vẽ thi công và dự toán Hạng mục: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên; Dự án thành phần: Sửa chữa, nâng cấp các Đập dâng thuộc Dụ án: Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định trên địa bàn huyện TP; Quyết định số 1072/QĐ-UBND ngày 02/4/2019 của UBND tỉnh Bình về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2019 huyện TP; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại ngày 11/11/2011; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ, quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ; Quyết định số 34/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014; Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ngày 14/02/2019 của UBND tỉnh quy định về giá đất, áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ về đất đai bị thu hồi trên địa bàn tỉnh Bình Định đã lập phương án giá trị bồi thường, hỗ trợ và chi phí GPMB để thực hiện hạng mục (đợt 3) đã được phê duyệt cho các hộ bị ảnh hưởng; Thông tư số 60/2014/TT-BCA ngày 18/11/2014 của Bộ Công an.
- Căn cứ Điều 29 Luật Tố tụng hành chính; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn T yêu cầu hủy Quyết định số 8197/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Văn T ở thôn Hữu Thành, xã PH để thực hiện công trình: Xây dựng mới đập dâng Nha Phu, gia cố xói lở 2 bờ thượng hạ lưu và tràn bên (đợt 3) tại xã PH, huyện TP; hủy Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 21/5/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đoàn Văn T thường trú thôn Hữu Thành, xã PH, huyện TP (lần đầu) và hủy Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Đoàn Văn T thường trú tại thôn Hữu Thành, xã PH.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm và chi phí tố tụng:
- Ông Đoàn Văn T thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn tiền án phí hành chính sơ thẩm.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) ông Đoàn Văn T phải chịu (ông Đoàn Văn T đã nộp xong).
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án hành chính sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Bình Định; - Cục THADS tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tuấn |