- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cứ A G - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm p, điểm q khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 29/2020/HSST Ngày: 25/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN P, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Việt Hà.
2. Ông Hồ Bá Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Xuân Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2020/TLST - HS, ngày 26 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cứ A G (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 12/4/1974 tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản Lọng L1, xã Mường P1, thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12 phổ thông; con ông: Cứ A D (Đã chết) và bà Giàng Thị S, sinh năm 1955; Vợ: Vàng Thị M, sinh năm 1978 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền sự: Không; Tiền án: Bị can có 01 tiền án về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/6/2020 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 25/6/2020, tổ công tác Công an thành phố Điện Biên P phối hợp với Công an xã Mường P tiến hành kiểm tra nhà của Cứ A G ở bản Lọng L1, xã Mường P, thành phố Điện Biên P do có nghi vấn phạm tội về ma túy. Khi phát hiện tổ công tác đến, G chạy ra hiên nhà dùng tay trái móc từ trong túi quần trái đang mặc ra 01 túi nilon màu xanh chứa các viên nén màu hồng (Nghi là hồng phiến) cho vào mồm nhai làm nhiều viên vỡ vụn. Khi bị tổ công tác khống chế, G nhả túi nghi hồng phiến đang nhai trong miệng ra giao nộp cho tổ công tác, cùng với túi nilon màu xanh, bên trong có 01 gói nilon màu xanh chứa các cục chất bột thể rắn màu trắng đục nghi là Heroine cất giấu trong túi quần. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số 619, ngày 03/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Điện Biên Kết luận. Mẫu chất bộ màu trắng thu giữ của G gửi giám định là ma túy loại Heroine có khối lượng 1,02 gam, Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của G gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine có gối lượng 9,77 gam. Vật chứng còn lại sau giám định là 0,96 gam Heroine và 9,67 gam Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra G khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 25/6/2020, Gấu đang ở nhà một mình thì có một người đàn ông G không quen biết đến chơi, qua nói chuyện, người đó đưa cho G túi nilon màu xanh bên trong có các viên hồng phiến và 01 gói nhỏ chứa các cục Heroine đực gói bằng mảnh nilon màu xanh bảo G đem bán. Khi bán xong, người đó sẽ quay lại nhà G lấy 800.000 đồng, G đồng ý. G lấy gói Heroine ra cho riêng vào túi nilon màu xanh của G có từ trước, rồi cất tất cả vào túi quần bên trái, mục đích để bán trả tiền cho người đàn ông đã đưa ma túy cho G và để sử dụng cho bản thân.
Tại Bản cáo trạng số: 119/CT-VKSTPĐBP ngày 25/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên P Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Điện Biên P để xét xử bị cáo Cứ A G về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", quy định tại điểm p, q khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo thể hiện hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng nên phải chịu tình tiết định khung "Tái phạm nguy hiểm" theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, do đó giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cứ A G từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,96 gam Heroine, 9,67 gam Methamphetamine; 02 túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu xanh. Án phí: Miễn án phí HSST đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản niêm phong, mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định khoảng 15 giờ 40 phút ngày 25/6/2020, tại nhà ở của mình ở bản Lọng L1, xã Mường P1, thành phố Điện Biên P. Cứ A G đã có hành vi cất giấu trên người 1,02 gam Heroine và 9,77 gam Methamphetamine, mục đích để bán và sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251; bị cáo đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng nên phải chịu tình tiết định khung "Tái phạm nguy hiểm" theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật; Cứ A G là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi pham tội với lỗi cố ý trực tiếp, vì vậy khẳng định, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm là rất nghiêm trọng, hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm gia tăng người nghiện ma túy trong xã hội và tiếp tay cho các loại tội phạm, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Ngày 19/5/2014, Tòa án nhân dân huyện Điện B xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST tại bản án số 114/2014/HSST ngày 19/5/2014. Bản án này chưa được xóa án tích; ngày 25/6/2020, bị cáo tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng với hành vi cất giấu 1,02 gam Heroine và 9,77 gam Methamphetamine để sử dụng và bán kiếm lời nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng "Tái phạm nguy hiểm" theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự nhận thức, cải tạo bản thân trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định; bản thân nghiện, sử dụng chất ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,96 gam Heroine, 9,67 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 02 chiếc túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu xanh là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
. Án phí và các vấn đề khác:
- Án phí: Cứ A G là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo không biết tên, địa chỉ của người bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở điều tra làm rõ, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm p, điểm q khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;
- Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Cứ A G phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Cứ A G 08 năm 06 tháng (Tám năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2020; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,96 gam Heroine, 9,67 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 02 chiếc túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu xanh. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên P đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng.
3. Án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 25/11/2020).
| Nơi nhận: - VKSND thành phố ĐBP; - Nhà tạm giữ CA thành phố ĐBP; - CQCSĐT CA thành phố ĐBP; - CCTHADS thành phố ĐBP; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS CATPĐBP; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Hồ sơ THAHS; - Bị cáo; - Lưu VP; Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Định |