vanban.org

Bản án 29/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 29/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 . Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn T phạm tội “Giết người”( Chưa đạt ).

Xử phạt bị cáo Dương Văn T 11(mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 14/2/2020. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương văn T phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 . Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn T phạm tội “Giết người”( Chưa đạt ).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 29/2020/HS-ST
Ngày 28- 10- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hiệp

Thẩm phán:

Bà Bùi Thị Thảo

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Trung

Ông Nguyễn Xuân Sinh

Ông Đinh Văn Tuyển

- Thư ký phiên toà: Bà Ninh Thị Thanh Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trịnh Văn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở tỉnh Tòa án nhân dân Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2020/TLST- HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020 QĐXXST - HS ngày 15 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Dƣơng Văn T, sinh năm 1968, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn V (đã chết) và bà Đinh Thị Đ; vợ Nguyễn Thị N (đã chết) có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/2/2020 tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn T theo chỉ định: Ông Phan Tiến Minh - Luật sư - Văn phòng luật sư Tiến Minh thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

- Bị hại:

1- Ông Đinh Văn H, sinh năm 1968;

2- Bà Đinh Thị X, sinh năm 1973;

Đều cư trú Xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (đều có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

1. Chị Dương Thị T1, sinh năm 1991; cư trú tại số nhà 147, thôn 20, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắc Lắc.

2. Anh Dương Xuân T2, sinh năm 1993; cư trú tại xóm A xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (là con đẻ của bị cáo Dương Văn T).

Ngày 27/02/2020 chị Dương Thị T1 và ngày 18/05 2020 anh Dương Xuân T2 đã có văn bản ủy quyền cho ông Dương Văn N, sinh năm 1973 cư trú tại xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (là em trai của bị cáo T) tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật (có mặt).

- Người làm chứng:

Anh Dương Duy Đ; anh Dương Duy P; bà Nguyễn Thị N; ông Nguyễn Mạnh H; bà Dương Thị N1; anh Đinh Văn T3; anh Hoàng Ngọc Đ; ông Dương Ngọc T4 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 11/2018, Dương Văn T có vợ bị chết, con trai T bị Cơ quan Công bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau khi vợ chết, con trai đi tù, Dương Văn T có biểu hiện lo âu, mất ngủ, thường nói chuyện một mình, không giao tiếp với mọi người xung quanh. Gia đình đã đưa T đến khám, điều trị tại bệnh viện tâm thần tỉnh Ninh Bình từ ngày 02/10/2019 đến ngày 01/11/2019 ra viện và được chẩn đoán: “Rối loạn hỗn hợp lo âu, trầm cảm”. Sau khi ra viện, T sống cô lập một mình, không giao tiếp nói chuyện với ai, thường xuyên lo âu, căng thẳng. Từ khoảng tháng 8/2019, Thủy cho rằng ông Đinh Văn H và vợ là bà Đinh Thị X, cách nhà T 10 mét, coi thường mình nên T nảy sinh ý định qua tết nguyên đán năm 2020 sẽ đánh ông H, bà X. Khoảng 04 giờ 45 phút sáng sớm ngày 11/02/2020, Dương Văn T vào buồng ngủ của gia đình lấy một chiếc búa đinh có phần cán bằng gỗ dài 36 cm, phần đầu búa bằng kim loại dài 11 cm có một đầu vuông cạnh dài 3 cm, một đầu bẹt có kích thước (3x0,5) cm rồi sang nhà để tìm đánh ông H, bà X. Khi đến cổng nhà ông H, thấy cửa cổng đóng, T cầm búa đứng sát mép tường gần cổng để đợi vợ chồng ông H, bà X ra thì đánh. Khoảng 04 h 55 phút cùng ngày, ông H từ trong nhà đi ra mở cổng cho bà X đi chợ thì Thủy đi bộ tiến lại gần đứng đối diện, cách ông H khoảng 1 mét, hai tay cầm búa đinh giơ búa lên đập một phát theo chiều từ trên xuống dưới trúng vào đầu ông H. Ông H giơ tay trái lên đỡ thì bị phần búa bằng kim loại trúng vào tay và đầu. Ông H kêu lên: “T ơi, T ơi ” rồi chạy ra ngoài đường, T cầm búa chạy đuổi theo tiếp tục đánh ông H nhưng không đuổi được. Thấy ông H bị T cầm búa đuổi đánh, bà X đứng ở cổng hô lên: “Cướp, cướp ”. Lúc này, T quay lại cầm búa đuổi đánh bà X. Bà X lùi lại vào trong sân nhà mình, T tiến đến đứng đối diện cách bà X khoảng 1 mét, hai tay cầm cán búa đinh giơ lên nhằm vào đầu bà X đập 02 phát, phần đầu búa bằng kim loại trúng vào đầu bà X làm bà X bị ngã xuống sân gạch. Sau đó, T cầm búa về nhà để ở tường cửa sổ của nhà kho rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Dream BKS 51T4 - 9682 đến chòi coi cá của ông Nguyễn Mạnh H, là anh rể của T hút thuốc lào. Tại đây, ông H hỏi Thủy: “Có chuyện gì”, T không trả lời. Sau đó, T đi vào bếp nhà ông H lấy một gói thuốc diệt chuột màu xanh đỏ rồi tiếp tục điều khiển xe máy, đi lên khu vực phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình để bỏ trốn. Quá trình bỏ trốn, T đã uống thuốc diệt chuột mang theo để tự tử nhưng không chết. Sau khi nhận được tin báo, Công an huyện Y đã tổ chức điều tra, truy tìm và phát hiện T đang ngồi ở đoạn đường đê thuộc phố Đ, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Thu giữ tại vị trí T ngồi 01 xe mô tô BKS 51T4 - 9682 nhãn hiệu HonDa Dream, màu sơn đen, xe cũ đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu xanh đỏ có KT (16x12) cm, trên mặt túi có in nhiều chữ nước ngoài và in hình con chuột, một góc túi đã bị xé rách, bên trong túi có chứa vỏ chấu, hột gạo tẩm hóa chất màu hồng. T được đưa về bệnh viện đa khoa huyện Y cấp cứu, đến ngày 13/02/2020, được xuất viện với chẩn đoán ngộ độc thuốc diệt chuột Trung Quốc. Trước Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với ông Đinh Văn H và bà Đinh Thị X, ngay sau khi bị Dương Văn T dùng búa đánh bị thương đã được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình để cấp cứu và điều trị đến ngày 24/02/2020 thì ra viện.

Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường kết quả như sau:

* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường nơi xảy ra vụ án được xác định là tại gia đình ông Đinh Văn H, sinh năm 1968, trú tại xóm A xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

- Phía Đông giáp gia đình ông Vũ Văn T, sinh năm 1959, phía Tây giáp gia đình bà Đinh Thị L, sinh năm 1955, phía Nam giáp gia đình ông Dương Văn H, sinh năm 1964, đều trú tại xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

- Phía Bắc giáp đường trục bê tông, tiếp đến giáp gia đình ông Dương Duy P, sinh năm 1953, trú tại: Xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

Gia đình ông Đinh Văn H nằm trên mảnh đất có KT (13x14) m, nhà quay hướng Nam có 01 cổng ra vào trên tường phía Bắc (góc Tây Bắc), cổng hướng ra đường trục xóm A, xã Y, cổng ra vào có KT (3,5x2,5) m. Cổng hai cánh, khung nhôm màu trắng, cổng trong tình trạng mở, đóng mở vào trong. Kiểm tra tại vị trí cổng ra vào trên nền sân cách mép cổng phía Đông 5cm, cách mép đường trục bê tông xóm 4 là 60 cm phát hiện một chiếc dép xốp màu trắng, trên nền sân tại vị trí cổng ra vào có nhiều vết dị vật màu nâu đỏ hướng từ vị trí cổng ra vào khu vực sân của gia đình ông H trên diện KT (2x8) m. Trên nền sân của gia đình ông H được lát gạch men hoa xanh, vàng, cách mép tường nhà kho tường phía Bắc 40 cm, cách mép tường bao phía Tây gia đình ông H 3 m phát hiện vết dị vật màu đỏ trên diện KT (8x10) cm. Tại vị trí này, về phía Tây cách mép tường phía Bắc nhà kho 1,5 m, cách mép tường bao phía Tây 1,3 m phát hiện một chiếc dép xốp màu trắng trên nền sân.

Mở rộng hiện trường về phía Đông góc Đông Bắc cách vị trí cổng ra vào gia đình ông H 10m là vị trí nhà ở của gia đình Dương Văn T. Khuôn viên nhà ở của Dương Văn T có KT(10x14) m, nhà quay hướng Nam hướng ra đường trục xóm 4, xã Y. Trên tường phía Nam có một cổng ra vào KT(1,5x1,7) m, cổng hai cánh màu xanh, đóng mở vào trong, cổng trong tình trạng mở. Nhà ở của Dương Văn T có một nhà kho giáp cổng ra vào, gian nhà ở nằm góc Đông Nam và khu vực bếp của gia đình. Giáp gian bếp về phía Nam có một nhà kho, tại phần tường bao phía Tây gian nhà kho có một cửa sổ phía Bắc KT (1x1,1) m. Cửa sổ không có cánh cửa, trên thành cửa, cách mép cửa sổ phía Bắc 20 cm, cách nền đất 1,3 m phát hiện một búa có phần cán bằng gỗ dài 36 cm, phần đầu búa bằng kim loại dài 11 cm có một đầu vuông cạnh dài 3 cm, một đầu bẹt có kích thước (3x0,5) cm.

Quá trình khám nghiệm Cơ quan điều tra thu giữ tại hiện trường 02 chiếc dép xốp mầu trắng và thu chiếc búa tại kho nhà Dương Văn T lấy ký hiệu A để trưng cầu giám định.

Quá trình điều tra gia đình ông H, bà X giao nộp: 01 chiếc áo cộc tay màu xám; 01 chiếc áo mưa gắn liền với mũ, màu xanh đen; 01 chiếc quần vải màu xám đã cũ qua sử dụng.

Gia đình T giao nộp: 01 thẻ căn cước công dân số 037068000438 và 01 sổ hộ khẩu số 120019758 đều mang tên Dương Văn T; 01 đăng ký xe mô tô xe máy số A0822315 mang tên Trần Bích Q.

Cơ quan Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe đối với bà Đinh Thị X, ông Đinh Văn H, trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bị can Dương Văn T, giám định dấu vết đường vân trên chiếc búa thu được trong quá trình khám nghiệm hiện trường tại nhà Dương Văn T.

*

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số:009/2020/ThT-GĐPY ngày 12/2/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận:

1- Dấu hiệu chính qua giám định:

Vết thương đỉnh đầu trái; Vết thương chẩm trái; Vỡ lún xương đỉnh trái; Chảy máu màng mềm; Dập nhu mô não trán phải. Sưng nề, bầm tím mắt phải; Sạt da cẳng tay trái.

2- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho bà Đinh Thị X là 46%.

3- Cơ chế hình thành thương tích:

Vết thương đỉnh đầu trái, tổn thương sọ - não: Do vật tầy cứng gây nên.

Vết thương chẩm trái: Do vật tầy cứng gây nên.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 042/2020/ThT-GĐPY ngày 10/7/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận:

1- Dấu hiệu chính qua giám định:

Sẹo vết thương hình sao vùng trán; Lún vỡ xương trán.

2- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại cho ông Đinh Văn H là 23%.

* Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 262/KLGD ngày 21/7/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận:

Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Dương Văn Thủy bị bệnh rối loạn Stress sau sang chấn. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F43.1.

Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bệnh của bị can ở giai đoạn thuyên giảm. Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại thời điểm giám định bệnh của bị can ở giai đoạn tiến triển, bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

* Tại thông báo số: 21/TB-PC09 ngày 22/04/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Trên đối tượng gửi giám định ký hiệu A phát hiện, xử lý và thu lượm một số dấu vết đường vân. Các dấu vết này mờ nhòe, không thể hiện rõ đặc điểm. Do đó, không đủ yếu tố giám định.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố Dương Văn T ®Ó xÐt xö vÒ téi: “GiÕt người” ¸p dông ®iÒu 123 kho¶n 1 ®iÓm a, n Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào: Các điểm a, n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 106; khoản 2 các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Giết người”(Chưa đạt). Xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 11 đến 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 14/2/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận thỏa thuận về việc Bị cáo Dương Văn T đã bồi thường thiệt hại cho bị hại là ông Đinh Văn H và bà Đinh Thị X 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) gồm các khoản: Chi phí nằm viện, tiền thu nhập bị mất, công người chăm sóc, bù đắp tổn thất tinh thần. Bị hại nhất trí với các khoản bị cáo Dương Văn T đã bồi thường và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc búa cán làm bằng gỗ dài 36 cm, phần búa kim loại dài 11cm búa cũ đã qua sử dụng, 02 chiếc dép xốp mầu trắng đã qua sử dụng có ghi chữ Trường Sơn, 01 chiếc áo cộc tay màu xám; 01 chiếc áo mưa gắn liền với mũ, màu xanh đen; 01 chiếc quần vải màu xám đã cũ qua sử dụng, 01 túi nilon màu xanh đỏ có KT(16x12) cm, trên mặt túi có in nhiều chữ nước ngoài và in hình con chuột, một góc túi đã bị xé rách, bên trong túi có chứa vỏ chấu, hột gạo tẩm hóa chất màu hồng.

Bị cáo Dương Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa của bị cáo Dương Văn T phát biểu quan điểm: Đồng ý với bản cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xét xử bị cáo về tội "Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bồi thường cho người bị hại, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, quá trình điều tra bị cáo T thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình theo, bị cáo có bệnh, hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Đề nghị Hội đồng xét xử quy định tại điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp của khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Văn T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì đã bồi thường cho gia đình bị hại, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có bệnh, hạn chế khả năng nhận thức để bị cáo cải tạo để sớm trở về với gia đình.

Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn T không có ý kiến gì hoặc khiếu nại gì về kết luận giám định hay các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố, công nhận Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội không oan; bị cáo T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 009/2020/ThT-GĐPY ngày 12/2/2020, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 042/2020/ThT-GĐPY ngày 10/7/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận và Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 262/KLGĐ ngày 21/7/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sơ kết luận:

Dương Văn Thủy cho rằng vợ chồng ông Đinh Văn H, bà Đinh Thị X có ý coi thường mình nên đã chờ thời điểm thích hợp để đánh trả thù. Sáng ngày 11/02/2020 T cầm theo 01 búa đinh đến đứng nép ở cổng nhà ông H. Khoảng 04 giờ 55 phút khi ông H ra mở cổng, Thủy đứng đối diện 02 tay cầm búa đập thẳng 01 nhát vào đầu ông H theo hướng từ trên xuống, ông H bị thương bỏ chạy ra đường T tiếp tục đuổi theo nhưng không kịp nên quay lại đuổi theo bà X, khi đứng đối diện với bà X, T dùng 02 tay cầm búa giơ lên cao đập liên tiếp 02 nhát vào đầu làm bà X gục ngã xuống sân. Hậu quả bà X bị vết thương đỉnh đầu trái, tổn thương sọ - não và vết thương chẩm trái giảm 46% sức khỏe; Ông H bị vết thương lún vỡ xương trán giảm 23% sức khỏe. Bị cáo Dương Văn T khi phạm tội là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo T biết rõ là là đập búa vào đầu của người khác là nguy hiểm đến tính mạng, có thể dẫn đến chết người nhưng vẫn bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Hành vi nêu trên của Dương Văn T là phạm tội “Giết người”, chưa đạt, thuộc trường hợp “Giết 02 người trở lên” và giết người “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại các điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Điều 123. Tội Giết người.

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên.

………..………..

n). Có tính chất côn đồ.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo Dương Văn T là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của Dương Văn T là đặc biệt nghiêm trọng thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn, coi thường mạng sống của người khác, gây hoang mang lo sợ, bất bình trong quần chúng nhân dân, do đó cần phải xử lý Dương Văn T thật nghiêm minh trước pháp luật, bằng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo T, để cải tạo bị cáo trở thành người sống có ích cho xã hội và phong ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo Dương Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật vì: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T phạm tội chưa đạt nên được áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.

Về trách nhiệm Dân sự:

Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường được 50.000.000 đồng gồm các khoản: Chi phí nằm viện, tiền thu nhập bị mất, công người chăm sóc, tổn thất tinh thần. Tại phiên tòa, Bị hại nhất trí với các khoản bị cáo Dương Văn T và gia đình đã bồi thường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Hội đồng xét xử thấy đây là thỏa thuận không trái pháp luật nên cần công nhận là phù hợp với quy định của pháp luật.

Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô BKS 51T4 - 9682 nhãn hiệu HonDa Dream, màu sơn đen; 01 thẻ căn cước công dân số 037068000438 và 01 sổ hộ khẩu số 120019758 đều mang tên Dương Văn T; 01 đăng ký xe mô tô xe máy số A0822315 mang tên Trần Bích Q Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp thông qua người được ủy quyền là đúng pháp luật.

Đối với vật chứng đã thu giữ nhưng không còn giá tri sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy gồm: 01 chiếc búa cán làm bằng gỗ dài 36 cm, phần búa kim loại dài 11cm búa cũ đã qua sử dụng, 02 chiếc dép xốp mầu trắng đã qua sử dụng có ghi chữ Trường Sơn, 01 chiếc áo cộc tay màu xám; 01 chiếc áo mưa gắn liền với mũ, màu xanh đen; 01 chiếc quần vải màu xám đã cũ qua sử dụng, 01 túi nilon màu xanh đỏ có KT(16x12) cm, trên mặt túi có in nhiều chữ nước ngoài và in hình con chuột, một góc túi đã bị xé rách, bên trong túi có chứa vỏ chấu, hột gạo tẩm hóa chất màu hồng.

Về án phí: Bị cáo Dương Văn T bị kết án có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Các điểm a, n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 591 và 593 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 106; khoản 2 các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1 . Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn T phạm tội “Giết người”( Chưa đạt ).

Xử phạt bị cáo Dương Văn T 11(mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 14/2/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Công nhận thỏa thuận về việc Bị cáo Dương Văn T đã bồi thường thiệt hại cho bị hại là ông Đinh Văn H và bà Đinh Thị X 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) gồm các khoản: Chi phí nằm viện, tiền thu nhập bị mất, công người chăm sóc, bù đắp tổn thất tinh thần. Bị hại nhất trí với các khoản bị cáo Dương Văn T đã bồi thường và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc búa cán làm bằng gỗ dài 36 cm, phần búa kim loại dài 11cm búa cũ đã qua sử dụng, 02 chiếc dép xốp mầu trắng đã qua sử dụng có ghi chữ Trường Sơn, 01 chiếc áo cộc tay màu xám; 01 chiếc áo mưa gắn liền với mũ, màu xanh đen; 01 chiếc quần vải màu xám đã cũ qua sử dụng, 01 túi nilon màu xanh đỏ có KT(16x12) cm, trên mặt túi có in nhiều chữ nước ngoài và in hình con chuột, một góc túi đã bị xé rách, bên trong túi có chứa vỏ chấu, hột gạo tẩm hóa chất màu hồng.

(Chi tiết đặc điểm các vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Ninh Bình và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình ngày 09/10/2020).

4. ¸n phÝ: Bị cáo Dương Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

¸n xö s¬ thÈm c«ng khai, bÞ c¸o, đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại có mặt, ® îc quyÒn kh¸ng c¸o trong thời h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ