vanban.org

Bản án 29/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 23/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s,r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đình H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 09/02/2020. 2/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s,r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
tßa ¸n nh©n d©n
HuyÖn Quúnh L¦U- nghÖ an

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2020/HSST
Ngày 23- 4 -2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƢU- NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Đóa.

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Tùng

2. Bà Đỗ Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Hoàng Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện VKSND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Thắng, Chức vụ- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2020 ngày 13/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình H; tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 05/01/1985 tại huyện QL, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 6, xã Q M, huyện QL, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Đình Nh, sinh năm 1957 và con bà Lê Thị H (đã chết); anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1984 (đã ly hôn); con: Có 01 người sinh năm 2006; tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 30/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/4/2016 nhưng đến nay bị cáo chưa thi hành xong phần án phí và phần dân sự; nhân thân: Ngày 30/3/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 09/02/2020 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

Chị Trương Thị Hồng Tr, sinh năm 1986. Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm 6, xã Q M, huyện QL, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/02/2020, Nguyễn Đình H đi cúng tế họ tại nhà thờ họ Nguyễn. Trong thời gian chờ cúng tế họ, H đi bộ xung quanh dạo chơi. Khi H đi qua nhà chị Trương Thị Hồng Tr thì không thấy ai ở nhà, quan sát tại sân nhà có chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE ALPHA, biển kiểm soát 37K9-2885 nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó H đi vào thì thấy chìa khóa xe vẫn cắm trên ổ khóa nên đã mở khóa, nổ máy rồi điều khiển đến nhà anh Nguyễn Văn Đ trú tại xóm 13, xã QL, huyện QL để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến nhà gặp anh Đ thì H nói “Em có chiếc xe không có giấy tờ cần bán”, thì anh Đ trả lời “Xe không có giấy tờ không mua mô”. Sau đó H ngồi nói chuyện với anh Đ một lúc rồi đi về. Nghĩ việc trộm của mình đã bị bại lộ, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nên H đã đến cơ quan Công an xin tự thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 54/BKLĐGTS ngày 11/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Quỳnh Lưu kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Wave AnPha, Biển kiểm soát 37K9-2885, đã qua sử dụng mà H trộm cắp của chị Tr ngày 08/02/2020 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng

Tại cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu Nguyễn Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu số 53/CT-VKS-HS ngày 10/3/2020 đã truy tố Nguyễn Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đánh giá chứng cứ, hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s,r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Nguyễn Đình H từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Trương Thị Hồng Tr đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 37K9-2885 do bị cáo Nguyễn Đình H trộm cắp, trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Tr nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 08/02/2020, lợi dụng sơ hở, Nguyễn Đình H đã lén lút đi vào nhà chị Trương Thị Hồng Tr trộm cắp một chiếc xe máy nhãn hiệu WAnpha, Biển kiểm soát 37K9-2885, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi nêu trên đều nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi trộm cắp tài sản của mình nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, do vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo lén lút lấy trộm tài sản là cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết và cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

Nguyễn Đình H đã nhiều lần bị xét xử về tội phạm hình sự. Ngày 30/3/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/4/2016 nhưng đến nay bị cáo chưa thi hành xong phần án phí và phần dân sự. Do vậy, bị cáo phạm tội lần này là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, đối với bị cáo cần phải lên một mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, sau khi phạm tội biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự nguyện ra cơ quan điều tra để tự thú về hành vi phạm tội của mình là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trương Thị Hồng Tr đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 37K9-2885 do bị cáo Nguyễn Đình H trộm cắp, trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Tr nên không xem xét.

Trong vụ án này, sau khi trộm cắp chiếc xe của chị Tr, H đã đưa xe đến nhà anh Nguyễn Văn Đ để bán nhưng anh Đ không mua xe khi biết xe không có giấy tờ, đồng thời không biết xe do H trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s,r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đình H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 09/02/2020.

2/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo: Những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ