vanban.org

Bản án 29/2020/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 21/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người b hại – ch Hoàng T V. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 24/2020/HS-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, n, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt b cáo Phạm Thị Cẩm A 14 (mười bốn) năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tải sản”. Thời gian chấp hành hình phạt của b cáo tính từ ngày chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Cẩm A - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người b hại – ch Hoàng T V. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 24/2020/HS-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2020/HSPT
Ngày: 21/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tiến

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Cường

Ông Trương Công Thi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhật, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 54/2020/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2020 đối với cáo Phạm Th Cẩm A về tội “ a đ o chi m đo t tài s n”. Do có kháng cáo của b hại đối với Bản án hình sự s thẩm số 24/2020/HS-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Phạm Th Cẩm A, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1990, tại Kon Tum.

Trú tại: Thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con Phạm Minh T, sinh năm 1959 và à Bùi Minh H, sinh năm 1965; Có chồng là Đàm Văn Q, sinh năm 1990 và có 03 người con; Tiền án, tiền sự: Không.

B cáo b áp dụng biện pháp cấm đi khỏi n i cư trú, được tại ngoại cho đến nay (có mặt).

- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đ n kháng cáo:

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tạ Văn N, Luật sư của Văn phòng luật sư S, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Kon Tum.

Đ a chỉ: tỉnh Kon Tum (có mặt).

- Bị h i:

Ch Hoàng T V, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ dân phố 3B, th trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ A Đàm Văn Q, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (có mặt).

+ Ch Phạm Th Cẩm V, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ dân phố 8, th trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (có mặt).

+ Ông Hoàng Hữu T, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ dân phố 8, th trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (có Đ n xin xét xử vắng mặt).

+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (có Đ n xin xét xử vắng mặt).

+ Bà Nguyễn Th P, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn 11, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

+ Bà Lê Th H, sinh năm 1980; Trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

+ Ông Đoàn Minh H, sinh năm 1962; Trú tại: Thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để trả nợ cho các khoản vay của người khác từ trước, Phạm Th Cẩm A đã đến nhà ch Hoàng T V và đưa ra thông tin với ch V là cần tiền để thực hiện đáo hạn ngân hàng cho khách hàng có nhu cầu vay lại, làm cho ch V tin tưởng và nhiều lần giao tiền cho Cẩm A vay mượn, cụ thể các lần như sau:

Lần thứ nhất: Vào ngày 20/11/2019, Phạm Th Cẩm A đến nhà ch V để trả hết các khoản nợ trước đó. Tại đây, Cẩm A đã đưa ra thông tin với nội dung cần tiền để cho người khác đáo hạn ngân hàng, khoản vay của hội phụ nữ và đề ngh ch V cho vay mượn số tiền 30.000.000đ, hẹn trong vòng 01 tuần sẽ hoàn trả. Tin tưởng thông tin Cẩm A đưa ra là có thật như những lần trước đó, ch V đồng ý và cho Cẩm A vay mượn số tiền trên. Quá trình vay mượn, hai ên thoả thuận lãi suất 1,5%/tháng và viết tay vào mẫu “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” ngày 20/11/2019 do ch V đánh máy soạn sẵn. Trong đó, ch V viết tay điền thông tin tại phần “Bên cho vay là A” và ký tên xác nhận dưới mục “BÊN CHO VAY (A)”, còn Cẩm A viết tay điền thông tin tại phần “Bên được vay là B” và ký tên xác nhận dưới mục “BÊN VAY (B)”.

Lần thứ hai: Vào uổi sáng ngày 21/11/2019, Cẩm A liên hệ với ch V, tiếp tục đưa ra thông tin với nội dung cần tiền để cho người khác vay đáo nợ ngân hàng và đề ngh ch V cho vay mượn số tiền 650.000.000đ, hẹn 02 ngày sẽ hoàn trả. Tin tưởng thông tin Cẩm A đưa ra, ch V đồng ý và cho Cẩm A vay mượn số tiền 650.000.000đ. Quá trình vay mượn, hai ên cũng thoả thuận lãi suất 1,5%/tháng và viết tay điền thông tin như lần vay ngày 20/11/2019 vào mẫu “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” đã được soạn sẵn ngày 21/11/2019.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Cẩm A tiếp tục liên hệ với ch V và đưa ra thông tin với nội dung cần tiền để cho khách hàng ở thành phố K vay đáo nợ ngân hàng và đề ngh ch V cho vay mượn số tiền 750.000.000đ, hẹn trong 02 ngày sẽ hoàn trả. Ch V đồng ý và cả hai điền thông tin và ký tên vào mẫu “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” ngày 21/11/2019. Do ch V có công việc phải đi xuống thành phố K nên đã điều khiển xe mô tô của mình, chở Cẩm A đi cùng đến quầy giao d ch của ngân hàng X chi nhánh tỉnh Kon Tum (địa chỉ:, Tp. K). Khi đến ngân hàng, ch V giao số tiền 750.000.000đ cho Cẩm A và đứng chờ ên ngoài, còn Cẩm A cầm tiền, đi vào quầy giao d ch. Tại đây, Cẩm A đã nộp toàn ộ số tiền 750.000.000đ mà ch V vừa đưa cho, vào tài khoản cá nhân của mình (Tài kho n số 0761002360609 mở t i ngân hàng X). Sau đó, Cẩm A đi ra và nói với ch V “Em xong việc rồi, mai em tr l i tiền cho chị”. Rồi cả hai cùng đi về huyện Đ. Khi về đến nhà của mình tại thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, Cẩm A liền lấy xe mô tô, đi đến phòng giao d ch ngân hàng X huyện Đ rút ra toàn ộ số tiền 750.000.000đ vừa nộp.

Lần thứ ba: Sáng ngày 22/11/2019, Cẩm A tiếp tục liên hệ với V và nói “hôm nay, có khách hàng đ o nợ gói 1.300.000.000đ, chị đưa em cho khách vay”. Tin tưởng thông tin Cẩm A đưa ra, ch V đồng ý và cho Cẩm A vay mượn số tiền 1.300.000.000đ. Cũng giống như các lần giao d ch trước, cả hai thỏa thuận lãi suất 1,5%/tháng và viết tay điền thông tin và ký tên vào mẫu “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” ngày 22/11/2019.

Với 03 lần vay tiền, Cẩm A liên tục đưa ra thông tin là cần tiền để cho người khác có nhu cầu vay mượn để đáo hạn ngân hàng với ch V, Phạm Th Cẩm A đã chiếm đoạt với tổng số tiền là 2.730.000.000đ. Sau khi, có được số tiền trên, Cẩm A không sử dụng vào mục đích như thông tin đã đưa ra mà sử dụng toàn ộ số tiền đó để trả nợ cho các khoản vay của người khác mà Cẩm A đã vay mượn từ trước và tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

- Trả cho Hoàng Hữu T (SN 1982; trú t i TDP 8, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) số tiền 700.000.000đ; Đoàn Minh H (SN 1962; trú t i thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) số tiền 500.000.000đ; Nguyễn Th P (SN 1971; trú t i thôn 11, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) số tiền 450.000.000đ; Phạm Th Cẩm V (SN 1987; trú t i TDP 8, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; chị ruột của A) số tiền 250.000.000đ; Nguyễn Văn H (SN 1976; trú t i thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) số tiền 160.000.000đ; Lê Th H (SN 1980; trú t i thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) số tiền 460.000.000đ; trả tiền lãi cho một số người khác trên đ a àn huyện Đ số tiền 150.000.000đ.

- Nộp vào tài khoản mở tại ngân hàng S chi nhánh tỉnh KonTum số tiền 30.000.000đ để trả tiền lãi.

- Số tiền 30.000.000 đồng còn lại, Cẩm A giữ lại để sử dụng tiêu xài trong quá trình đi vào thành phố Hồ Chí Minh hết số tiền 20.100.000đ, còn lại 9.900.000 đồng.

Vì trước khi trả nợ cho những người trên, Cẩm A có đặt vấn đề với họ là khi trả nợ xong thì những người trên cho Cẩm A vay, mượn lại nhưng họ từ chối.

Đến khoảng 13 giờ ngày 22/11/2019, do không còn tiền để trả cho các chủ nợ, Cẩm A đã đi xuống thành phố K (cầu Đ) và gọi điện thoại cho chồng là Đàm Văn Q (SN 1990; trú t i thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) nói đi xuống thành phố K gặp Cẩm A và Cẩm A thông áo cho Q biết về việc bản thân Cẩm A đang nợ tiền của rất nhiều người, với số tiền rất lớn và không có khả năng trả lại (muốn tự tử) và đề ngh Q cùng ỏ đi khỏi đ a phư ng một thời gian, để tránh áp lực b đòi nợ. Sau khi gặp được Cẩm A, Q đã khuyên nhủ Cẩm A bỏ ý đ nh tự tử và Q đồng ý cùng với Cẩm A đi xuống thành phố P, tỉnh Gia Lai mua vé máy ay đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi đi khỏi đ a phư ng, Cẩm A đã chủ động nhắn tin với các chủ nợ là ch T, ch V để thông áo về việc mất khả năng trả nợ và xin những người này gia hạn thời gian để trả nợ.

Ngày 27/11/2019, sau nhiều lần không liên lạc được với Cẩm A và qua tìm hiểu, ch V biết được Cẩm A không còn ở n i cư trú nên đã làm đ n tố giác hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Cẩm A đến C quan CSĐT và giao nộp 04 “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN”, giữa Cẩm A và ch V (bản gốc lưu hồ s vụ án).

Tại bản kết luận giám đ nh số 25/KLGĐ-PC09 ngày 10/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kon Tum kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên “Phạm Th Cẩm A” (trừ phần chữ viết từ dòng 4 đến dòng 11) trên 04 tài liệu cần giám đ nh (ký hiệu A1, A2, A3, A4) với chữ ký, chữ viết của à Phạm Th Cẩm A trên hai “BẢN TỰ KHAI” đề ngày 13-12- 2019 và ngày 23-12-2019 do cùng một người viết ra.

Về vật chứng vụ án C quan điều tra thu giữ:

- Chứng minh nhân dân số 233116423; Thẻ ATM ngân hàng ACB số tài khoản 7959837; Thẻ thanh toán Plus ngân hàng S số tài khoản 3275032963; Thẻ thanh toán Plus số tài khoản 040056337271; Giấy phép lái xe hạng A1 số 621188002161; Thẻ ATM ngân hàng X số thẻ 0608132 8029; Thẻ ATM ngân hàng X số thẻ 05210123; Sổ hộ khẩu số 351004665, chủ hộ Đàm Văn Q. (Đã trả cho chủ s hữu hợp pháp theo quyết đ nh xử lý vật chứng số 05/QĐ-CSĐT ngày 17/01/2020 của C quan CSĐT – Công an huyện Đ).

- Một điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, số Imeil 359236068031167, màu xám, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (của Cẩm A);

- Một điện thoại di động NOKIA model TA-1203, màu xanh đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (của Cẩm A);

- Một MACBOOK model A1708EMC3164, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và giữ liệu ên trong máy.

- Số tiền 9.900.000đ (thu từ Cẩm A).

Trách nhiêm dân sự: Trong quá trình điều tra Cẩm A đã trả cho b hại Hoàng T V với số tiền 450.000.000 đồng, b hại V tiếp tục yêu cầu b cáo Cẩm A phải trả số tiền còn lại là 2.280.000.000 đồng.

Với các nội dung trên,

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2020/HS-ST ngày 14/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum quyết định:

Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, n, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;

1. Tuyên ố b cáo Phạm Th Cẩm A phạm tội:“ a đ o chi m đo t tài s n”. Xử phạt: B cáo Phạm Th Cẩm A 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày ắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 164 và 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc b cáo Phạm Th Cẩm A phải trả cho ch Hoàng T V số tiền 2.280.000.000đ (Hai tỷ hai trăm tám mươi triệu đồng);

Bản án s thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành ản án về phần trách nhiệm dân sự, quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy đ nh.

Sau khi xét xử s thẩm, b cáo Phạm Th Cẩm A không kháng cáo và không kháng ngh ; Ngày 26/9/2020, người b hại – ch Hoàng T V kháng cáo đề ngh xem xét các nội dung sau: Xem xét vai trò đồng phạm của anh Đàm Văn Q (chồng của b cáo), làm rõ số tiền b cáo chiếm đoạt của b hại để trả nợ cho ên thứ 3 để thu hồi trả lại cho b hại.

Tại phiên tòa: Ch Hoàng T V vẫn giữ nguyên kháng cáo đề ngh xem xét các nội dung nói trên; Kiểm sát viên đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận các nội dung kháng cáo của người b hại, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 24/2020/HS-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum; B cáo, Luật sư ào chữa cho b cáo đề ngh Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy đ nh của pháp luật.

Sau khi nghe: Người b hại trình ày nội dung và căn cứ của việc kháng cáo; quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án; ý kiến của b cáo về kháng cáo của người b hại; ý kiến ào chữa của Luật sư ào chữa cho b cáo và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và ngh án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử s thẩm và lời khai của b cáo, b hại tại phiên tòa phúc thẩm thì có căn cứ để kết luận:Trong thời gian liên tục từ ngày 20 đến ngày 22 /11/2019, b cáo Phạm Th Cẩm A đã đưa ra thông tin là cần tiền đáo nợ ngân hàng và cho khách hàng có nhu cầu vay lại để ch V tin tưởng nhiều lần giao tiền cho Cẩm A mượn, với tổng số tiền là 2.730.000.000 đồng. B cáo Phạm Th Cẩm A đã chiếm đoạt số tiền trên sử dụng vào mục đích khác. Với hành vi và hậu quả như trên, Bản án hình sự s thẩm số 24/2020/HS-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã tuyên ố b cáo Phạm Th Cẩm A phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tải sản”. Tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Xét kháng cáo của người b hại – ch Hoàng T V kháng cáo đề ngh xem xét vai trò đồng phạm của anh Đàm Văn Q (chồng của b cáo), làm rõ số tiền b cáo chiếm đoạt của b hại để trả nợ cho ên thứ 3 để thu hồi trả lại cho b hại thì thấy:

. Đối với kháng cáo về đồng phạm của anh Đàm Văn Q: Do không có tiền để trả nợ cho những khoản vay trước đó, nên trong thời gian 03 ngày, cáo Cẩm A đã liên tục đưa ra thông tin không đúng sự thật về mục đích vay tiền nên ch Hoàng T V đã tin tưởng cho b cáo vay khoản tiền 2.730.000.000 đồng và sử dụng số tiền này để thanh toán nợ cho những người mà cáo còn nợ trước đó. Hành vi phạm tội của b cáo Cẩm A là do chính cáo thực hiện, không có đồng phạm trong vụ án. Chỉ sau khi không có tiền trả nợ thì cáo mới thông tin cho anh Đàm Văn Q là chồng của b cáo iết để cùng ỏ đi khỏi đ a phư ng n i cư trú là nhằm trốn tránh trả nợ. A Q cũng không biết rõ việc vay mượn tiền của b cáo nên C quan điều tra và Viện kiểm sát kết luận hành vi của anh Q không đủ yếu tố cấu thành tội “Che dấu tội phạm” là có căn cứ, đúng pháp luật. Kháng cáo của ch Hoàng T V đề ngh xem xét vai trò đồng phạm của anh Đàm Văn Q là không có căn cứ để chấp nhận.

. Đối với kháng cáo làm rõ số tiền b cáo chiếm đoạt của b hại để trả nợ cho ên thứ 3, để thu hồi trả lại cho b hại: B cáo đã thừa nhận chiếm đoạt số tiền 2.730.000.000 đồng của ch Hoàng T V trả nợ cho những người mà cáo đã nợ trước đó nên hành vi của b cáo mới b truy tố và xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tải sản” mà hại được xác đ nh là ch Hoàng T V là đúng quy đ nh tại Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự. Khi xét xử vụ án, Tòa án xét xử s thẩm đã buộc b cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt của người b hại là đúng với các quy đ nh tại các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Kháng cáo của người b hại về nội dung này cũng không có căn cứ để chấp nhận.

. Do kháng cáo về phần quyết đ nh dân sự không được chấp nhận, nên theo quy đ nh tại điểm e khoản 2 Điều 23 và Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Ch Hoàng T V phải ch u 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết đ nh khác của Bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận đ nh trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của người b hại – ch Hoàng T V. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 24/2020/HS-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

1. Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, n, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt b cáo Phạm Thị Cẩm A 14 (mười bốn) năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tải sản”. Thời gian chấp hành hình phạt của b cáo tính từ ngày chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 164 và 166 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc b cáo Phạm Th Cẩm A phải bồi thường cho ch Hoàng T V số tiền 2.280.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm tám mư i triệu đồng).

3. Án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 23 và Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc ch Hoàng T V phải ch u 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm.

4. Các quyết đ nh khác của án s thẩm về: Xử lý vật chứng, án phí s thẩm và quy đ nh về thi hành án, chậm thi hành án được thực hiện theo quyết đ nh của Bản án hình sự s thẩm số 24/2020/HS-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ