vanban.org

Bản án 29/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 16/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

uy n b : Nguyễn Văn , ùi Văn H phạm tội Mua bán trái ph p chất ma túy.

2 ề xử ý v t chứng: Áp dụng đi m a, b, c kho n 1 Điều 47 ộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 ộ luật T tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Khánh và đồng phạm phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? uy n b : Nguyễn Văn , ùi Văn H phạm tội Mua bán trái ph p chất ma túy.
  • Căn cứ chính? luật T tụng hình sự; Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

N

Ủ N

N M

N

N

c

– d – nh h c

n án s : 29/2020/HS-ST

Ngày: 16-7-2020

NHÂN DANH

N

N

Ủ N

N M

N N N N N

N

Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:

- Thẩm phán - h t a phiên tòa: à Nguyễn Thị Dụ

- Thẩm phán:

Ông Lương Văn Can

- ác hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Minh

Ông Nguyễn Trần Phương

Ông ạch Thanh Chương

- Thư ký phiên t a: à Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa ình.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh H a Bình tham gia phiên t a: Ông Vũ ình Minh - i m sát vi n.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa ình, t

sơ th m c ng khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý s 26/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra t s : 31/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đ i với các bị cáo:

1. Nguyễn ăn K, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1992 tại: Huyện C, Hà Nội. Nơi cư trú: Th n Q, xã Đ, huyện C, thành ph Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: inh; giới tính: Nam; t n giáo: h ng; qu c tịch: Việt Nam; con ng Nguyễn Văn h và bà Cấn Thị Ch; có vợ là Lương Thị N và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: h ng; Nhân thân: Ngày 10/8/2012 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng phạt 36 tháng tù giam về tội “Vi phạm quy định về điều khi n phương tiện giao thông đường bộ”; ngày 30/8/2013 được đặc á; bị tạm giữ từ ngày 08/8/2019 đến ngày 16/8/2019, tạm giam từ ngày 17/8/2019 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành ph Hòa Bình; “có mặt”.

2. ùi ăn , sinh ngày 13 tháng 02 năm 1980 tại Hòa Bình. Nơi cư trú: xóm Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa ình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; t n giáo: h ng; qu c tịch: Việt Nam; con ng ùi Văn (đã chết) và bà Trần Thị L; có vợ là ùi Thị D và 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/8/2019 đến ngày 16/8/2019, tạm giam từ ngày 17/8/2019 đến nay, hiện tạm giam tại trại giam C ng an tỉnh Hòa Bình; “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Bà Nguyễn Thị H, Luật sư, văn phòng Luật sư Lỗ Hữu T thuộc đoàn Luật sư tỉnh Hòa ình; “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn H: à Nguyễn Thị T, Luật sư, văn phòng Luật sư Hồng T thuộc đoàn Luật sư tỉnh Hòa ình; “có mặt”.

N

UN Ụ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn và ùi Văn H quen biết nhau từ trước. Kho ng 13 giờ 30 phút ngày 07/8/2019 K gọi điện thoại cho H, b o H mua cho K 180.000.000 đồng ma túy (loại Ketamine) đ bán; H đồng ý, b o K g i tiền l n cho H. Sau đó H gọi điện thoại cho Th H - M - Hòa Bình (người quen của H) hỏi mua 180.000.000 đồng Ketamine, Th đồng ý.

ho ng hơn 14 giờ ngày 07/8/2019, K gọi điện thoại cho L Qu c T sinh năm 1980, trú tại Thanh ình - huyện C - Hà Nội (là lái e ta i và có quen biết K, H từ trước), K thuê T mang tiền của K lên M cho H đ gi i quyết c ng việc, còn việc gì K không nói cho T biết. Sau đó K và T gặp nhau tại đường qu c lộ 6

- Trạm thu phí cũ thuộc ã Thủy Xuân T - huyện C - Hà Nội. K đưa cho T 180.000.000 đồng b o T cầm tiền l n M giao cho H, khi nào gần l n đến nơi thì gọi điện thoại cho H. T đồng ý, K tr c ng cho T 1.000.000 đồng. T cầm tiền của K lái e đi l n M, còn K tiếp tục đi u ng khu vực X chơi. Đến kho ng 17 giờ cùng ngày, T đến nhà H gặp H nhà một mình, T đưa cho H 180.000.000 đồng tiền K g i rồi đi về. Sau đó H gọi điện thoại cho Th và nói với Th là H đã có tiền mua ma túy, H hẹn Th u ng nhà H lấy tiền và Th đồng ý. Một lúc sau Th cùng một người đàn ng dân tộc M ng kh ng quen biết đi e máy đến nhà H (H kh ng nhớ bi n s e), H đưa cho Th 180.000.000 đồng tiền mua ma túy Ketamine, Th cầm tiền và nói t i sẽ cho người mang ma túy u ng nhà cho H, H đồng ý. Sau đó Th và người đàn ng đi cùng Th đi về. Đến kho ng 23 giờ cùng ngày, người đàn ng dân tộc M ng (người đi cùng Th đến nhà H) một mình đi e máy đến đưa cho H một túi nilon màu trắng, b n trong có một hộp giấy dạng cát t ng và b o Th g i cho H. H nhận thức được đây là gói ma túy Ketamine, sau đó người đàn ng dân tộc này quay e đi đâu thì H không rõ. H cất giấu gói ma túy trong nhà và giấu kh ng cho ai biết.

ho ng 18 giờ cùng ngày, K một mình đón e khách đến khu vực đỉnh d c C - Hòa ình mục đích đ chơi và đợi H mua được ma túy thì K sẽ l n M gặp H đ lấy ma túy. Đến kho ng 23 giờ 30 phút cùng ngày, K gọi điện thoại cho H hỏi đã mua được ma túy cho K chưa, H nói đã mua được ma túy và b o K l n gần nhà của H gặp H lấy ma túy, K đồng ý. Sau đó K gọi điện thoại cho bạn làm nghề lái e ta i t n là Đặng Trần C - sinh năm 1995, trú tại hu C, thị trấn X - huyện C - Hà Nội b o C l n khu vực nhà nghỉ Hoa Anh Đ, đỉnh d c C thuộc huyện C, Hòa ình đón K, C đồng ý. Đến kho ng 01 giờ 30 phút ngày 08/8/2019, C l n đến khu vực đỉnh Cun gặp K đứng một mình ngoài đường trước c a nhà nghỉ Hoa Anh Đ. K l n e t ta i của C ngồi ghế phụ phía trước và b o C ch K lên M đ K đón bạn, C đồng ý và lái e ch K đi. Dọc đường đi K gọi điện thoại cho H Th báo việc K đang đi e ta i l n M gặp H. K và H hẹn gặp nhau và giao ma túy đỉnh T (nơi giáp danh giữa huyện T và huyện M). Sự việc trao đổi tr n chỉ có H và K biết, còn C đang lái e n n kh ng đ ý việc trao đổi điện thoại của K. Sau khi trao đổi với K, H cầm túi ma túy đã mua của Th một mình đi e máy đến khu vực đỉnh T đợi K đ giao ma túy, chờ một lúc thì C lái e ch K đi đến, K thấy H đang đứng cạnh e máy một mình lề đường n n K b o C lái xe táp vào lề đường, b o C u ng e và tháo mào tem ta i ra đ khỏi bị C nh sát giao Th ki m tra, soi lỗi vi phạm giao Th. C đồng ý và giúp K tháo mào xe taxi, lúc này H cầm túi ma túy đến và đ mặt ghế phụ phía trước e ta i của C (ghế K ngồi lúc trước), do K và H có thỏa thuận từ trước về việc giao dịch ma túy n n K biết túi H vừa đ tr n ghế e t là ma túy H mua cho K, K rủ H đi cùng K u ng nhà nghỉ Hoa Anh Đ chơi và đợi K quay lại. H đồng ý và đ y e máy của H vào quán bán phong lan ven đường đ g i. Sau khi tháo mào xe taxi xong thì K và C l n e t ngồi, lúc này gói ma túy vẫn tr n mặt ghế nơi K ngồi, do vướng n n K cầm và đặt u ng sàn e ghế sau (phía sau ghế lái), H g i e máy ong l n e ta i của C và ngồi hàng ghế phía sau. K b o C lái e đi về, C đồng ý và lái e ta i ch K và H đi về, khi đi đến khu vực ã Phong Phú - T - Hòa Bình thì C thấy lực lượng C ng an ra tín hiệu dừng e ki m tra, C gi m t c độ đ dừng e lại. Do có ma túy trong e sợ bị bắt nên H b o C cứ đi qua, C lái e th m một đoạn thì bị lực lượng C ng an dừng e lại. Cơ quan C ng an tiến hành ki m tra phát hiện bắt qu tang Nguyễn Văn , ùi Văn H cùng toàn bộ vật chứng gồm:

S ma túy thu giữ khi bắt qu tang 999,35 gam.

- Thu giữ của Nguyễn Văn : 10.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu anh, đen; 01 (một) CMND s : 001092004893 mang t n Nguyễn Văn và 01 (một) giấy ph p lái e s : 010164118222 mang t n Nguyễn Văn .

- Thu giữ của ùi Văn H: Hai điện thoại (một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, trắng).

Tại ết luận giám định s : 207/ LGĐ-CAT-PC09 ngày 14/8/2019 của Phòng ỹ thuật hình sự - C ng an tỉnh Hòa ình kết luận:

hất dạng tinh thể màu trắng trong hộp niêm phong ghi vật chứng tạm giữ khi bắt quả tang Bùi Văn H và Nguyễn Văn K ngày 08/8/2019 có khối lượng là 999,35 g ( hín trăm chín mươi chín phấy ba mươi năm gam).

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Ketamine.

Ketamine nằm trong danh mục III, số thứ tự: 35, Nghị định số 73/2018/NĐ- P ngày 15/5/2018 c a hính ph ”.

Đ i với người đàn ng t n Th (theo lời khai của ùi Văn H nhà Th xã H, huyện M, Hòa ình) đến nay chưa đủ căn cứ đ

lý, cơ quan điều tra tiếp tục ác minh khi nào đủ căn cứ sẽ lý sau.

Đ i với người đàn ng đã đi cùng Th u ng nhà ùi Văn H đ lấy tiền và trực tiếp mang ma túy của Th u ng cho ùi Văn H t i ngày 07/8/2019. Do căn cước lai lịch kh ng rõ ràng n n Cơ quan điều tra tiếp tục ác minh khi nào làm rõ sẽ lý sau.

Đ i với những người lái e ta i t n Đặng Trần C và L Qu c T, do không biết về hành vi phạm tội của Nguyễn Văn và ùi Văn H n n kh ng đề cập lý.

Tại b n Cáo trạng s 29/CT-V S-P1 ngày 23/4/2020 của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa ình truy t các bị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H về tội Mua bán trái ph p chất ma túy theo quy định tại đi m e kho n 4 Điều 251 ộ luật hình sự.

Tại phi n tòa, Nguyễn Văn và ùi Văn H đều khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung b n cáo trạng đã ác định.

Trình bày lời luận tội tại phi n tòa, đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa ình giữ nguy n quyết định truy t . Sau khi đánh giá chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ, hậu qu của hành vi do các bị cáo thực hiện, vai trò của từng bị cáo, tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng đi m e kho n 4 Điều 251; đi m s kho n 1, kho n 2 Điều 51 ộ luật hình sự, phạt Nguyễn Văn tù chung thân, phạt ùi Văn H 20 năm tù đều về tội Mua bán trái ph p chất ma túy.

Về lý vật chứng, căn cứ Điều 47 ộ luật hình sự, Điều 106 ộ luật t tụng hình sự: Tịch thu ti u hủy s etamine thu giữ của các bị cáo; tịch thu sung ngân sách nhà nước: 10.000.000 đồng và 01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn K, 01 điện thoại Sam sung của ùi Văn H; tr lại cho Nguyễn Văn 01 Chưng minh nhân dân và 01 giấy ph p lái e, tr lại cho ùi Văn H 01 điện thoại Iphone.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H nhất trí với Cáo trạng của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa ình truy t hai bị cáo về tội danh, đi m, kho n và Điều luật truy t . Luật sư đề nghị áp dụng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự cho hai bị cáo (quá trình điều tra và tại phi n tòa hai bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn h i c i). ị cáo K có hoàn c nh gia đình khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình (bà nội 97 tuổi già yếu, b mắc mệnh hi m nghèo, mẹ bị mắc bệnh ti u đường, c ruột bị mù b m sinh, chị gái K bị tàn tật từ nhỏ, con còn nhỏ); s etamine thu giữ qu tang n n chưa phát tán ra ngoài ã hội; đề nghị tr lại cho bị cáo 10.000.000 đồng; kh ng áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo. Bị cáo ùi Văn H là người dân tộc thi u s (Mường) trình độ văn hóa thấp (2/12) n n nhận thức và hi u biết ã hội và pháp luật hạn chế; trước khi phạm tội có nhân thân t t, chưa có tiền án, tiền sự; Ủy ban nhân dân xã H có văn b n ác nhận bị cáo H có b đẻ là thanh ni n ung phong trong thời kỳ kháng chiến ch ng Mỹ, bác ruột là bộ đội kháng chiến ch ng pháp; ng ngoại, cậu ruột, dì ruột là đ ng vi n đ ng cộng s n Việt Nam. Luật sư Đề nghị phạt hai bị cáo mức án thấp hơn mức án đại diện Viện ki m sát đề nghị. Ý kiến của Luật sư bào chữa cho các bị cáo được Hội đồng t

em t kỹ lưỡng trong khi nghị án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được th m tra tại phi n tòa; căn cứ vào kết qu tranh luận tại phi n tòa, tr n cơ s em t đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của i m sát vi n, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo;

N ẬN ỊN Ủ TÒA ÁN:

Tr n cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

[1] Tài liệu trong hồ sơ th hiện: Về hành vi, quyết định t tụng của cơ quan c nh sát điều tra C ng an tỉnh Hòa ình trong quá trình tiến hành t tụng, của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa ình, i m sát vi n trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của ộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa những người tham gia t tụng kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khác của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H phù hợp với tài liệu điều tra, truy t được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đủ s xác định: Nguyễn Văn và ùi Văn H có m i quan hệ quen biết ã hội từ trước. K li n lạc, trao đổi với H về việc mua Ketamine đ bán, K chuy n s tiền 180.000.000 đồng cho H đ H mua Ketamine cho K. H biết rõ mục đích của K mua Ketamine đ bán đã đồng ý. Sau khi nhận tiền của K, H li n lạc với Th, b o Th mua Ketamine cho H; H giao toàn bộ s tiền đã nhận của K cho Th đ Th mua Ketamine. Sau khi H nhận được Ketamine của Th, H báo cho K, hai người hẹn gặp nhau tại đỉnh T, huyện M, tỉnh Hòa Bình đ giao nhận etamine. Hai bị cáo khai, sau khi bán được s etamine vừa mua, K sẽ tr c ng cho H.Trên đường K và H mang Ketamine đi bán thì hai bị cáo bị bắt qu tang tại khu vực óm Trọng Vặn, ã Phong Phú, huyện T, tỉnh Hòa ình. Thu giữ 01 gói dạng tinh th màu trắng có kh i lượng 999,35g; kết luận giám định là ma túy, loại Ketamine.

Như vậy, Nguyễn Văn và ùi Văn H có hành vi mua 999,35g Ketamine đ bán. etamine nằm trong danh mục III, s thứ tự: 35, Nghị định s 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hành vi do Nguyễn Văn và ùi Văn H thực hiện cấu thành tội Mua bán trái ph p chất ma túy. Với kh i lượng Ketamine bị thu giữ 999,35g, thuộc trường hợp quy định tại đi m e kho n 4 Điều 251 của ộ luật Hình sự (các chất ma túy rắn có kh i lượng 300 gam tr lên). n cáo trạng của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa ình truy t bị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H về tội Mua bán trái ph p chất ma túy theo đi m e kho n 4 Điều 251 ộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

ị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được các hành vi có li n quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, song do hám lợi các bị cáo c ý thực hiện tội phạm. Tội phạm do các bị cáo thực hiện là đặc biệt nghi m trọng, âm phạm chính sách độc quyền qu n lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ã hội, là nguy n nhân phát sinh một s tội phạm khác. Do đó cần ph i có hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hậu qu của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra đ răn đe và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này có 02 bị cáo cùng c ý thực hiện tội phạm. X t vai trò của từng bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Văn là người kh i ướng về việc mua Ketamine đ bán, K li n lạc với H, chuy n tiền mua Ketamine cho H, thuê xe ta i đến đi m hẹn đ nhận etamine và b o H cùng mang Ketamine đi bán. Do đó, K ph i chịu trách nhiệm chính, mức hình phạt cao hơn H mới phù hợp.

ị cáo Bùi Văn H tiếp nhận ý chí, mục đích của K là mua Ketamine cho K đ bán. H nhận tiền của K, li n lạc với Th và giao tiền của K cho Th đ Th mua Ketamine cho H. H nhận etamine từ người của Th và giao Ketamine cho K, cùng K mang ma túy đi bán, mục đích đ được K tr c ng. Vai trò của H là đồng phạm, giúp sức tích cực cho K, do đó, mức án của H thấp hơn K là phù hợp.

[3] ình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s của hai bị cá Nguyễn ăn K và ùi ăn

Hai bị cáo phạm tội kh ng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 ộ luật Hình sự. Tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phi n tòa, các bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn h i c i. Ý kiến của Luật sư bào chữa cho hai bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại đi m s kho n 1 Điều 51 ộ luật hình sự là có căn cứ, được chấp nhận. Bị cáo ùi Văn H có trình độ văn hóa 2/12 n n nhận thức về ã hội có phần hạn chế; trước khi phạm tội có nhân thân t t, chưa có tiền án, tiền sự; là người dân tộc thi u s (Mường); vai trò đồng phạm. Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo H đề nghị áp dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại kho n 2 Điều 51 ộ luật hình sự là có cơ s , được Hội đồng t chấp nhận. hi quyết định hình phạt Hội đồng t có em t đến hoàn c nh gia đình của bị cáo K và áp dụng kho n 2 điều 51 ộ luật hình sự đ i với bị cáo K.

Qua xem xét khách quan, toàn diện vụ án thấy rằng, với kh i lượng ma túy bị thu giữ 999,35g Ketamine, thuộc trường hợp đặc biệt nghi m trọng, gấp 03 lần quy định tại đi m e kho n 4 Điều 251 ộ luật hình sự. Do đó, cần ph i có hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hậu qu và vai trò của mỗi bị cáo đ răn đe và phòng ngừa chung.

Quan đi m của đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa ình đề nghị

phạt bị cáo Nguyễn Văn mức án Chung thân, ùi Văn H mức án 20 năm tù là phù hợp. Ý kiến của Luật sư bào chữa cho hai bị cáo đề nghị phạt các bị cáo mức án thấp hơn mức án i m sát viên đề nghị là kh ng có cơ s , n n kh ng được chấp nhận.

[4] ề hình h t bổ sung.

X t hoàn c nh gia đình của hai bị cáo có khó khăn n n ý kiến của Luật sư đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đ i với hai bị cáo là có căn cứ, được chấp nhận.

[5] ề xử ý v t chứng.

Cơ quan điều tra thu giữ: 999,35g Ketamine; trích mẫu giám định: 46,81g; còn lại sau khi trích mẫu g i giám định là: 952,54g. S mẫu g i giám định: 46,81g. Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại: 35,46g mẫu chất ma túy, loại Ketamine. X t thấy, s ma túy đã thu giữ của Nguyễn Văn và ùi Văn H là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, tuy n tịch thu và ti u hủy (theo đi m c kho n 1, Điều 47 ộ luật hình sự).

- S tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) thu giữ của Nguyễn Văn , bị cáo khai mang theo tiền khi đi nhận etamine từ H và cùng H mang ketamine đi bán. Ý kiến của đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa ình đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước s tiền thu giữ của bị cáo K là đúng. Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị tr lại cho bị cáo s tiền 10.000.000 đồng là kh ng có cơ s n n kh ng được chấp nhận.

- 01 (một) CMND s : 001092004893 và 01 giấy ph p lái e s : 010164118222 đều mang tên Nguyễn Văn . X t đây là giấy tờ cá nhân, cần tr lại cho bị cáo Nguyễn Văn .

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu anh, đen (thu giữ của Nguyễn Văn ); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen (thu giữ của ùi Văn H); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, trắng (thu giữ của ùi Văn H). Tại phi n tòa các bị cáo khai đã s dụng làm phương tiện li n lạc mua bán ma túy. Cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước (theo đi m a kho n 1, Điều 47 ộ luật hình sự). Ý kiến của Viện ki m sát đề nghị tr lại cho bị cáo H điện thoại Iphone là kh ng phù hợp.

[6] ề án hí: Bị cáo Các bị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H ph i chịu án phí hình sự sơ th m theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

U

ỊN :

uy n b : Nguyễn Văn , ùi Văn H phạm tội Mua bán trái ph p chất ma túy.

Căn cứ đi m e kho n 4 Điều 251; đi m s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 39 ộ luật Hình sự năm 2015; x phạt Nguyễn Văn tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/8/2019.

Căn cứ đi m e kho n 4 Điều 251; đi m s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 ộ luật Hình sự năm 2015; x phạt ùi Văn H 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/8/2019.

2 ề xử ý v t chứng: Áp dụng đi m a, b, c kho n 1 Điều 47 ộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 ộ luật T tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) hộp ni m phong dán kín còn nguy n vẹn, một mặt đề chữ: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu g i giám định vụ Nguyễn Văn cùng đồng phạm mua bán trái ph p chất ma túy y ra tại: Phong Phú - huyện T - Hòa Bình ngày 08/8/2019. h i lượng 952,54g (chín trăm năm mươi hai phẩy năm mươi tư gam)”. Trên m p có dán chữ ký của thành phần tham gia ni m phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan C nh sát điều tra - C ng an tỉnh Hòa ình (một số dấu mờ nhòe không rõ nét).

- 01 (một) phong bì niêm phong dán kín còn nguy n vẹn. Một mặt đề chữ: “MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY; C GĐ: Đỗ Thành C; s nhận giám định: 207 ngày 08/8/2019; S Th báo LGĐ: 207 ngày 14 tháng 8 năm 2019; CQ trưng cầu: Cơ quan CSĐT (PC04) ngày 08 tháng 8 năm 2019; T n đ i tượng: Nguyễn Văn và ùi Văn H; T n mẫu: Ketamine; S lượng: 01 (35,46g)”. Tr n các m p dán có chữ ký của thành phần tham gia ni m phong và dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - C ng an tỉnh Hòa ình (một số dấu mờ nhòe không rõ nét).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 (một) phong bì ni m phong dán kín còn nguy n vẹn, một mặt đề chữ: “Ni m phong tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đã qua giám định) có tổng giá trị 10.000.000đ (mười triệu đồng) thu giữ khi bắt qu tang Nguyễn Văn – SN 1992; Nơi cư trú: Thôn Q - xã Đ – huyện C - Hà Nội, trong vụ án: Nguyễn Văn cùng đồng phạm mua bán trái ph p chất ma túy y ra tại: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa ình ngày 08/8/2019”. Tr n m p dán có chữ ký của thành phần tham gia ni m phong Vũ ình M; ùi Văn S; Vũ Thành Tr; Phạm C ng H và dấu tròn đỏ của Cơ quan C nh sát điều tra - C ng an tỉnh Hòa ình (một số dấu mờ nhòe không rõ nét).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen. Bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Điện thoại cũ chày ước và qua s dụng kh ng tiến hành ki m tra bộ phận chi tiết b n trong.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, trắng. Bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Điện thoại cũ chày ước và qua s dụng kh ng tiến hành ki m tra bộ phận chi tiết b n trong.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu anh, đen. Bên trong máy có 02 (hai) sim Viettel. Điện thoại cũ chày ước và qua s dụng kh ng tiến hành ki m tra bộ phận chi tiết b n trong.

Trả l i cho bị cáo Nguyễn Văn K:

- 01 (một) CMND s : 001 092 004 893 và 01 (một) giấy ph p lái e s : 010 164 118 222 đều mang tên Nguyễn Văn .

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số51/BB-GNVC ngày 13 tháng 7 năm 2020. Giữa cơ quan ảnh sát điều tra ông an tỉnh Hòa Bình và ục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình)

3. ề án hí: Căn cứ kho n 2 Điều 135 LTTHS, đi m a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016- U TVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. uộc bị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H, mỗi bị cáo ph i nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ th m.

4. ề quyền kháng cá đ i với bản án: Bị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày tuy n án. N i nhận:

M

ỒN É Ử SƠ ẨM

- TANDCC; VKSNDCC;

ẨM P N - Ủ Ọ P ÊN

- V SND tỉnh Hòa ình;

- CQCSĐT C ng an tỉnh Hòa ình;

- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa ình;

( ã ký)

- S tư pháp;

- Người bào chữa;

- ị cáo;

- Trại tạm giam C ng an tỉnh Hòa ình;

- Lưu Hồ sơ; Tổ Hành chính tư pháp.

Nguyễn hị ụ

4 ề quyền kháng cá đ i với ản án: Bị cáo Nguyễn Văn và ùi Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày tuy n án.

ÀN

ÊN

ỒN É Ử

ẨM P N - Ủ Ọ P ÊN

ẨM N N N

ẨM P N

Cỡ chữ