- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạ Văn M phạm tội " Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? T bố bị cáo Mạ Văn M phạm tội“Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 29/2020/HS-ST Ngày 07/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử S thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Ngọc Long;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông La Văn Tuấn - Chức vụ: Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện V, tỉnh Lào Cai;
2. Bà Nguyễn Thị Thủy - Giáo viên trường Trung học cơ sở xã Khánh Yên Trung, huyện V, tỉnh Lào Cai;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 08/7/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử S thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/TLST- HS ngày 14 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2020/HSST-QĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với:
- Bị cáo Mạ Văn M - sinh ngày 19 tháng 02 năm 1994 tại huyện V, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học V: 7/12; dân tộc: Xa Phó; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạ Văn T và bà Lý Thị M ; bị cáo chung sống như vợ chồng với Hoàng Thị T và có 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/02/2020 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai - Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Hoàng Văn S, sinh năm 1973 (đã chết);
- Những người đại diện theo pháp luật của bị hại gồm:
+ Bà Triệu Thị M - Sinh năm 1978 (là vợ của bị hại); Có mặt.
+ Anh Hoàng Văn Q - Sinh năm 1997 (là con đẻ của bị hại); Có mặt.
Đều cư trú tại: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai;
+ Chị Hoàng Thị T - Sinh năm 1996 (là con đẻ của bị hại); Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn N , xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Triệu Thị M - Sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai; Có mặt.
- Những người làm chứng:
1. Chị Hoàng Thị T - Sinh năm 2003. Nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai; Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của chị Hoàng Thị T: Ông Đỗ Mạnh H - Sinh năm 1990, là cán bộ Huyện đoàn V, tỉnh Lào Cai; Có mặt.
2. Chị Lự Thị V - Sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai; Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của chị Lự Thị V: Ông Lự Hè S - Sinh năm 1967, Nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai; Có mặt.
3. Chị Mạ Thị M - Sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ S vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 26/12/2019, Mạ Văn M và Hoàng Thị T - sinh năm 2003, là người chung sống như vợ chồng với Mầu đến nhà bố nuôi của T là ông Hoàng Văn S ở thôn K, xã S, huyện V ăn cơm tối cùng ông S, bà Triệu Thị M, là vợ ông S ở dưới bếp. Trong lúc đang ăn cơm, ông S có trách móc vợ chồng con trai là Hoàng Văn Q thì Mầu góp ý với ông S là đừng quá khắt khe với con cái, ông S không hài lòng nên quay ra chửi Mầu, khi nhìn thấy ông S giơ tay phải về phía mình, Mầu dùng tay gạt tay ra và nói “mày đừng động vào tao”, ông S liền chửi mắng Mầu, Mầu đã cầm 02 chiếc bát ăn cơm ném vào kiềng bếp. Sau đó ông S, bà M đi lên nhà, ông S lấy 01 đoạn gậy bằng kim loại dài khoảng 50 cm để trên tủ gỗ kê trong nhà. Bà M thấy ông S lấy gậy nghĩ là để đánh Mầu nên đã đến giằng co với ông S để lấy chiếc gậy. Lúc này chị Mạ Thị M, là em gái Mầu nghe thấy tiếng cãi nhau nên đã đi sang xem. Mạ Văn M nghe thấy tiếng giằng co cãi nhau trên nhà nên đã từ dưới bếp chạy đến can ngăn ông S và bà M. Mầu ôm vào người đẩy ông S nằm xuống giường được kê sát vách nhà và bảo “bố ngủ đi”, Mầu dùng hai tay nhấc hai chân ông S lên giường thì bị ông S dùng hai chân đạp vào phần ngực và bụng khiến Mầu ngã ngửa ra phía sau. Do bực tức Mạ Văn M đã lao lên giường dùng tay túm lấy cổ áo rồi vật lộn với ông S làm thành giường bị gãy. Lúc này anh Hoàng Văn Q đang ở trong nhà đã chạy đến can ngăn kéo Mầu ra khỏi giường. Ông S đứng dậy tiếp tục chửi Mầu, Mầu vùng ra khỏi tay anh Q và xông vào dùng tay trái đẩy vào vai phải phía trước làm ông S ngã ngửa đập đầu vào tủ gỗ phoóc sau lưng. Mầu cũng bị ngã lao người theo, Mầu khom người dùng tay trái túm lấy cổ áo ghì giữ không cho ông S đứng dậy. Anh Q chạy đến can ngăn kéo Mầu ra phía cửa nhà, ông S đứng dậy tiếp tục chửi và đi về phía Mầu. Mầu lại xông vào đứng đối diện ông S và dùng hai tay đẩy mạnh vào hai bên vai làm ông S ngã ngửa người ra đầu đập xuống nền đất cứng, lồi lõm trong nhà. Bị cáo khai rằng hành vi đó không nhằm mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại, do bực tức, bị cáo chỉ xô đẩy để bị hại không lao về phía mình. Sau đó ông S liên tục kêu đau đầu, chóng mặt, buồn nôn đến đêm ngày 27/12/2019 được gia đình đưa đi Bệnh viện đa khoa huyện V và được chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai điều trị, tối ngày 28/12/2019 thì tử vong. Sau đó Mạ Văn M đến đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 35/GĐPY-TTPY ngày 19/02/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai kết luận: Hoàng Văn S chết do ngừng tuần hoàn, hô hấp do chảy máu não, dập não sau chấn thương sọ não kín.
Bản cáo trạng số 27/CT - VKS - VB ngày 13/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Mạ Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa S thẩm:
Bị cáo Mạ Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu lời luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử T bố bị cáo Mạ Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mạ Văn M từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện bị hại và bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường, không yêu cầu tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo Mạ Văn M trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật Hình sự, mức thấp nhất của khung liền kề.
Đại diện hợp pháp của bị hại bà Triệu Thị M trình bày ý kiến: Đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về phần trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 10 triệu đồng. Đến nay, các đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ S vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mạ Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ S vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 26/12/2019, trong khi ăn cơm, uống rượu tại nhà bị hại Hoàng Văn S, giữa bị cáo và bị hại đã xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Bị hại S đã lấy 01 đoạn gậy sắt mục đích để đánh bị cáo nhưng được mọi người can ngăn kịp thời, bị hại còn dùng chân đạp 02 phát vào ngực bị cáo và chửi mắng bị cáo. Lúc đó, do bực tức, không kiềm chế được bản thân, trong khi giằng co với bị hại, bị cáo đã có hành vi dùng tay đẩy ông Hoàng Văn S ngã đập đầu vào tủ gỗ phoóc và nền nhà. Sau khi xảy ra xô xát, bị hại có biểu hiện bị đau đầu, buồn nôn nên đến ngày 27/12/2019 được gia đình đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện V sau đó chuyển lên bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai. Đến tối ngày 28/12/2019 bị hại tử vong, theo bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 35/GĐPY-TTPY ngày 19/02/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai kết luận: Hoàng Văn S chết do ngừng tuần hoàn, hô hấp do chảy máu não, dập não sau chấn thương sọ não kín.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo Mạ Văn M dùng tay xô đẩy 02 lần với lực mạnh làm bị hại Hoàng Văn S ngã đập đầu vào tủ gỗ phoóc và nền nhà, là những vật có bề mặt cứng đã dẫn đến hậu quả bị hại bị chấn thương sọ não kín, mặt khác sau khi xảy ra va chạm mặc dù bị hại kêu đau đầu, buồn nôn nhưng không được gia đình đưa đi cấp cứu kịp thời nên bị hại đã tử vong.
Căn cứ vào lời khai, hành vi khách quan của bị cáo có đủ căn cứ xác định: Bị cáo không có ý thức tước đoạt tính mạng của bị hại, hậu quả bị hại chết là nằm ngoài ý chí chủ quan của bị cáo. Do vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tối đối với bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “làm chết người” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Mạ Văn M thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật.
Tuy nhiên, xét thấy bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có ông ngoại được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Viện kiểm sát và người bào chữa không đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ người bị hại cũng có một phần lỗi là thiếu, chưa đảm bảo được quyền lợi cho bị cáo.
Sau khi cân nhắc các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị là thấp, không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.
[4 ] Về trách nhiệm dân sự:
Người đại diện hợp pháp của bị hại đã xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và tự thỏa thuận không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Do bị cáo Mạ Văn M bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
T bố bị cáo Mạ Văn M phạm tội“Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mạ Văn M 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Mạ Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự S thẩm.
Bị cáo, những người đại diện bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự ”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện (02); - Sở Tư pháp tỉnh; - CQCSĐT CA huyện; - CQTHAHS CA huyện; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Những đại diện bị hại (03); - THA Tòa án 04; - Lưu Hồ S. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN La Văn Tuấn Nguyễn Thị Thủy | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Ngọc Long THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Ngọc Long |