vanban.org

Bản án 29/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau Tuyên án 12/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bé H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm hình sự: Phạt bị cáo Huỳnh Bé H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Bé H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bé H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2020/HS-ST
Ngày 12/8/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bình Triệu

Ông Trần Phi Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vỉ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Bé H, sinh năm 1975; nơi sinh: huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thái K (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1956; chồng là ông Huỳnh Văn Th, sinh năm 1973 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Văn Công T, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm A, phường B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Phạm Học T1, sinh năm 1961 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm C, phường D, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

+ Ông Huỳnh Văn Th – sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 20/01/2020, Huỳnh Bé H một mình điều khiển xe mô tô biển số 69D1-238.68 đi từ nhà thuộc ấp Cái Bát, xã Hồ Thị Kỷ theo tuyến lộ bê tông Cái Bát đi cầu Ông Hương Mới, nhằm ra tuyến đường Hành Lang Ven Biển Phía Nam (tức đường Xuyên Á) đến Ủy ban nhân dân xã Hồ Thị Kỷ làm giấy tờ tùy thân. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày khi xe chạy đến đường gôm của cầu Ông Hương Mới đoạn lộ giao nhau với đường Xuyên Á. Bị cáo H không chú ý, quan sát thật kỹ, không nhường đường đảm bảo an toàn cho xe đang chạy trên đường ưu tiên, mà tiếp tục cho xe chạy từ đường gôm thẳng ra đường Xuyên Á là đường ưu tiên, nên khi xe chạy đến gần tim đường thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 69M1-075.86 do ông Văn Công T một mình đang điều khiển trên tuyến đường Xuyên Á, hướng từ thành phố Cà Mau đi huyện Thới Bình. Tai nạn xảy ra làm hai xe hư hỏng, cả hai người đều bị té ngã xuống đường, Hai bị thương tích nhẹ, ông T bị thương tích nặng phải nhập viện điều trị và có đơn yêu cầu xử lý.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lập lúc 10 giờ 30 phút ngày 23/01/2020 đã xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn trên tuyến Hành lang ven biển Phía Nam, thuộc địa phận ấp 2, xã Hồ Thị Kỷ là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, có vạch kẻ phân làn đường hai chiều xe chạy riêng biệt. Mặt đường bằng phẳng, được cấu trúc bằng nhựa, dân cư sinh sống hai bên đường thưa thớt, mật độ phương tiện tham gia giao thông đông đúc, nằm trong hệ thống báo hiệu tác dụng của biển “Giao nhau với đường không ưu tiên” (ký hiệu W.207b). Chọn hướng Cà Mau đi huyện Thới Bình làm hướng khám nghiệm chính. Chọn mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm chính làm lề chuẩn. Chọn trụ cột H6/18 làm điểm mốc. Chiều rộng của mặt đường 7,00m; Khoảng cách từ tâm vùng đụng đo vào lề chuẩn là 1,20m; từ tâm vùng đụng đo đến cột H6/18 là 25,80m.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 89/TgT ngày 09/4/2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Cà Mau kết luận đối với ông Văn Công T: Dấu hiệu chính qua giám định: 01 vết sẹo phẫu thuật đường trắng giữa từ trên rốn 03cm đến bờ trên xương mu, kích thước: 16cm x 0,2cm. Tỷ lệ 02%. 01 vết sẹo dẫn lưu vùng hông phải, kích thước: 1,5cm x 0,2cm. Tỷ lệ 01%. 01 vết sẹo dẫn lưu vùng hông trái, kích thước: 01cm x 0,3cm. Tỷ lệ 01%. Hồi tràng dập, đứt đôi đã cắt đoạn hồi tràng nối tận – tận. Tỷ lệ 46%. Đại tràng Sigma dập – vỡ đã cắt lọc đại tràng Sigma đóng đầu dưới, đầu trên kéo làm hậu môn nhân tạo (Hậu môn tạm). Tỷ lệ 61%. Gãy cũ xương đòn phải, gãy cũ xương sườn 8, 9 bên phải. Do đây là tổn thương cũ. Không xếp tỷ lệ %. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế là 80%. Trừ đi các thương tích do phẫu thuật tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra còn lại là 78,94%, làm tròn số 79%.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô biển số 69D1-238.68, đã cũ, bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 xe mô tô biển số 69M1-075.86, đã cũ, bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số đăng ký 69D1-238.68 mang tên Huỳnh Bé H, do Công an huyện Thới Bình cấp ngày 27/01/2016, bản chính; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số đăng ký 69M1-075.86 mang tên Phạm Học T1, do Công an huyện Năm Căn cấp ngày 27/10/2014, bản chính; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Văn Công T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 18/3/2015, bản chính; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Huỳnh Bé H, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/11/2016, bản chính; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô – xe máy mang tên Huỳnh Bé H, do Công ty Bảo hiểm BSH Tây Nam Bộ cấp ngày 07/10/2019, bản chính; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô – xe máy mang tên Phạm Học T1, do Công ty bảo hiểm PVI Cà Mau cấp ngày 15/10/2019, bản chính. Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình đã xử lý trả lại cho ông T: 01 xe mô tô, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe, đối với xe mô tô biển số 69M1-075.86; trả lại cho bị cáo H: 01 xe mô tô biển số 69D1-238.68.

Trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra Huỳnh Bé H đã thỏa thuận với phía bên gia đình ông T khắc phục hậu quả và các chi phí khác số tiền 200.000.000 đồng, Hai đã khắc phục xong. Phía gia đình ông T có đơn bãi nại và không yêu cầu về phần dân sự, hình sự.

Bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 07/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Huỳnh Bé H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ y cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Bé H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Phạt bị cáo Huỳnh Bé H từ 06 tháng đến 01 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục cho bị hại số tiền 200.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.

Về vật chứng tại vụ án: Trả lại cho bị cáo H 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số đăng ký 69D1-238.68 mang tên Huỳnh Bé H, do Công an huyện Thới Bình cấp ngày 27/01/2016, bản chính; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Huỳnh Bé H, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/11/2016, bản chính; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô – xe máy mang tên Huỳnh Bé H, do Công ty Bảo hiểm BSH Tây Nam Bộ cấp ngày 07/10/2019, bản chính.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Th: Đối với số tiền 200.000.000 đồng ông thay bị cáo H khắc phục cho bị hại, nay ông không yêu cầu xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Bé H thừa nhận: Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 20/01/2020 bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 69D1-238.68 không đúng các quy định về an toàn giao thông đường bộ, không nhường đường tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên để bảo đảm an toàn, nên dẫn đến hậu quả va chạm với xe ông Văn Công T, làm ông T bị thương tích giám định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 79%. Bị cáo thừa nhận thương tích của ông T là do bị cáo gây ra.

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ. Vì vậy có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do bị cáo chủ quan, không chấp hành đúng các quy định về an toàn giao thông đường bộ nên bị cáo đã gây ra hậu quả ông T bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 79%. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của ông T. Do đó cần phải xử phạt bị cáo với mức phạt đúng theo tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa và giáo dục đối với bị cáo.

Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử xét có xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: Bị cáo đã bồi thường Th hại cho bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; bị hại có đơn yêu cầu bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có công với cách mạng theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên không xét.

Vật chứng tại vụ án: Trả lại cho bị cáo H 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số đăng ký 69D1-238.68 mang tên Huỳnh Bé H, do Công an huyện Thới Bình cấp ngày 27/01/2016 (bản chính); 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Huỳnh Bé H, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/11/2016 (bản chính); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô – xe máy mang tên Huỳnh Bé H, do Công ty Bảo hiểm BSH Tây Nam Bộ cấp ngày 07/10/2019 (bản chính).

Bị cáo phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bé H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

Phạt bị cáo Huỳnh Bé H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Huỳnh Bé H cho Ủy ban nhân dân xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Huỳnh Bé H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.)

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

Trả lại cho bị cáo H 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số đăng ký 69D1-238.68 mang tên Huỳnh Bé H, do Công an huyện Thới Bình cấp ngày 27/01/2016 (bản chính); 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Huỳnh Bé H, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/11/2016 (bản chính); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô – xe máy mang tên Huỳnh Bé H, do Công ty Bảo hiểm BSH Tây Nam Bộ cấp ngày 07/10/2019 (bản chính). (Hiện vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình quản lý).

4. Nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và thi hành án:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Bé H phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bản án này là sơ thẩm, báo cho bị cáo H, ông Th biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông T, ông T1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ