vanban.org

Bản án 29/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Tuyên án 17/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người Thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 29/2020/HS-ST
Ngày: 17-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức;

2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:

Đỗ Anh V, sinh năm: 1981. Nơi sinh: Tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Ấp TP B, xã TH, huyện TH, tỉnh KG;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: V Nam; con ông Đỗ Văn B (đã chết) và bà Đinh Thị P, sinh năm 1943;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 15/5/2020 đến nay, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Công T, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: ấp VH, xã VK, huyện TS, tỉnh AG. Chức vụ: Phó trưởng Công an xã BT, huyện TS, tỉnh AG. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Quách Minh K, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: ấp TP B, xã TH, huyện TH, tỉnh KG. Vắng mặt.

2. Anh Lê Hồng P, sinh năm 1996.

Nơi cư trú: Ấp TS, thị trấn NS, huyện TS, tỉnh AG. Hiện là Công an viên xã BT, huyện TS, tỉnh AG. Có mặt.

3. Anh Đặng V. T, sinh năm 1999.

Dân quân tự vệ BCH Quân sự xxã BT, huyện TS, tỉnh AG. Vắng mặt.

4. Anh Hồ Ngọc H, sinh năm 1994.

Nơi cư trú: Ấp TS, thị trấn NS, huyện TS, tỉnh AG. Hiện là Công an viên xã BT, huyện TS, tỉnh AG. Có mặt.

5. Anh Võ H. T, sinh năm 2001;

Nơi cư trú: Ấp TT, xã TH, huyện TH, tỉnh KG. Vắng mặt.

6. Anh Quách Văn K, sinh năm 2001;

Nơi cư trú: Ấp TT, xã TH, huyện TH, tỉnh KG. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch công tác tuần tra kiểm soát giao thông số:16/KH-TTKS ngày 30/3/2020 của Công an xã Bình Thành, huyện Thoại Sơn, ngày 05/4/2020 tổ công tác 04 người gồm: Anh Phạm Công T làm tổ trưởng, cùng các anh Lê Hồng P, anh Hồ Ngọc H và anh Đặng V.T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông trên tuyến TL 960, nông thôn ấp Nam Huề, Tây Huề, Bình Thành, Kiên Hảo, thời gian từ 21h đến 23h cùng ngày.

Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, tổ tuần tra đến khu vực dưới dốc cầu Thoại Hà 3, thuộc ấp Tây Huề phát hiện anh Quách Minh K điều khiển xe mô tô biển số 68S4-9293 chở Đỗ Anh V ngồi sau không đội mũ bảo hiểm nên ra tín hiệu dừng phương tiện. Qua kiểm tra, K không xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự, tổ công tác tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính để xử lý theo quy định của pháp luật. Khi này, V có lời lẻ thô tục, chửi Tổ công tác và có hành vi ngăn cản lực lượng tạm giữ phương tiện vi phạm, khi T yêu cầu V hợp tác để lực lượng giải quyết thì V không chấp hành tiếp tục có lời lẻ thô tục chửi, đồng thời dùng tay trái đánh trúng vào môi bên phải của T gây thương tích. Sau đó, Tổ công tác khống chế V đưa về trụ sở Công an xã Bình Thành lập biên bản xử lý.

Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 181/20/TgT ngày 21/4/2020 của tổ chức giám định pháp y tỉnh An Giang, kết luận: Phạm Công T: Môi dưới phải bên ngoài không tồn tại sẹo; Sẹo niêm mạc bên trong môi dưới bên phải kích thước 01 x 0.1cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (một phần trăm).

Vật chứng thu giữ: Không.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đỗ Anh V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Công T trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Anh T đã nhận bồi thường số tiền 3.000.000 đồng và không yêu cầu xử lý V về hành vi cố ý gây thương tích. Những người làm chứng Quách Minh K, Lê Hồng P, Đặng V.T, Hồ Ngọc H, Võ H.T và Quách Văn K trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTS ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn truy tố bị cáo Đỗ Anh V về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Anh V phạm tội “Chống người thi hành công vụ”; Xử phạt bị cáo Đỗ Anh V từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam. Đối với hành vi gây thương tích 01%, do T không yêu cầu xử lý hình sự và hành vi của K đã bị xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xem xét.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh T không yêu cầu xử lý V về hành vi cố ý gây thương tích và yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo đã nhận thức rõ được hành vi sai trái của mình, tự nguyện khắc phục hậu quả nhanh.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, bị cáo xin lỗi anh T và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thoại Sơn, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người làm chứng là anh Quách Minh K, anh Đặng V. T, anh Võ H.T và anh Quách Văn K đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử và đã có lời khai được làm rõ tại cơ quan điều tra. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tội danh và các chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 16/4/2020, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 09/4/2020 và các tài liệu, chứng cứ khác qua điều tra đã thu giữ được.

Từ những chứng cứ nêu trên đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 05/4/2020 sau khi uống rượu, Quách Minh K điều khiển xe mô tô chở bị cáo Đỗ Anh V ngồi sau không đội mũ bảo hiểm. Khi Tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an xã Bình Thành lập biên bản vi phạm hành chính vì K không xuất trình được các giấy tờ liên quan, V đã có lời lẽ thô tục, chửi tổ công tác và có hành vi ngăn cản lực lượng tạm giữ phương tiện vi phạm. Khi được yêu cầu hợp tác để lực lượng giải quyết thì V không chấp hành tiếp tục có lời lẽ thô tục chửi, đồng thời dùng tay trái đánh trúng vào môi bên phải của T gây thương tích. Hậu quả anh T bị thương tích 01% (một phần trăm). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Như vậy, qua các tình tiết đã được xác định, Hội đồng xét xử xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Đỗ Anh V về tội "Chống người thi hành công vụ" theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[2.2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết về pháp luật, nhưng đã cố ý cản trở, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của Phạm Công T là Phó trưởng Công an xã Bình Thành đang làm nhiệm vụ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp, làm cản trở và gây ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công vụ, thực hiện hoạt động bình thường, đúng đắn của những người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công vụ. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả xong. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật nên bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo có nơi cư trú ổn định, có khả năng tự cải tạo và việc bị cáo cải tạo bên ngoài không gây nguy hiểm cho xã hội. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình, 1 chân bị khuyết tật, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, phải nuôi mẹ già 77 tuổi, có 02 con nhỏ. Tại phiên tòa, anh T có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Đối với hành vi gây thương tích 01% (một phần trăm), do T không yêu cầu xử lý hình sự và hành vi của K đã bị xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xem xét.

[3] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Anh V phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Anh V 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/9/2020).

Giao bị cáo Đỗ Anh V cho Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Đỗ Anh V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Bị cáo Đỗ Anh V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ