- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kiều O, sinh năm 1994 và Bị đơn: Ông Ngô Hoàn S, sinh năm 1984"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Thị Kiều O.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 29/2020/HNGĐ-ST Ngày: 09/7/2020 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Trịnh Trần Tuyết Trinh;
2. Trương Quang Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 09/7/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 106/2020/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh ch p hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2020 ngày 29/6/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kiều O, sinh năm 1994; địa chỉ: Số 298, ấp H, xã L, huyện P, tỉnh An Giang .
- Bị đơn: Ông Ngô Hoàn S, sinh năm 1984; địa chỉ:Tổ 13, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang là bị đơn trong vụ án.
Bà O có đơn xin xét xử vắng mặt, ông S vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/02/2020 và lời khai cung c p trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Kiều O trình bày:
Bà và ông Ngô Hoàn S tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Lạc, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang theo số 157 ngày 10/9/2014. Sau khi kết hôn, cả hai vợ chồng cùng sống tại xã Hòa Lạc, huyện Phú Tân. Khoảng 01 năm trước 2019 thì về sinh sống tại ấp Mỹ Phú, xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc.
Qúa trình chung sống, ông S thường xuyên hăm dọa, đánh đập bà O, Không chịu đựng được nên bà O bỏ về nhà cha mẹ ruột và không còn chung sống từ đầu năm 2019 đến nay. Nay bà O xin ly hôn với ông S.
Về con chung: Bà Oxác định vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Thị Kim T, sinh ngày 23/02/2015 hiện đang sống cùng bà O. Bà Ocó yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông Ngô Hoàn S cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà O tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Ngô Hoàn S vắng mặt nên Tòa án không thu thập được lời khai.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh để thu thập chứng cứ được biết, Ông S và bà Ocó thời gian sống tại ấp Mỹ Phú, nhưng hiện nay bà Ođã đi làm xa, còn ông S cũng đi làm tại Đồng Nai nhưng không rõ địa chỉ, thỉnh thoảng trở về địa phương sống chung với cha mẹ. Về tình cảm thì không rõ mâu thuẫn như thế nào.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn Ngô Hoàn S là không có mặt khi Tòa án mời làm việc, hòa giải và xét xử.
Ý kiến về giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà O và ông S có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống ông S thường xuyên đánh đập, bạo hành bà, từ năm 2019 cho đến nay bà và ông S không còn chung sống với nhau. Nay tình cảm không còn, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông S.
Bị đơn S mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần thông qua bà Nguyễn Thị Đ (mẹ ruột của ông S), nhưng không tham gia hòa giải và không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, căn cứ vào lời trình bày bà O, bà Đ kết quả xác minh thể hiện giữa bà Ovà ông S có mâu thuẫn, không còn sống chung. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, việc bà O yêu cầu ly hôn với ông S là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Thị Kim T, sinh ngày 23/02/2015 hiện đang do bà O nuôi dạy. Bà O có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông Ngô Hoàn S cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.
Để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm sinh lý, hơn nữa bé thanh là bé gái và chỉ 5 tuổi nên để bà O tiếp tục nuôi dạy là phù hợp, ông S phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật là 745.000 đồng/tháng (tương đương ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định).
Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà O được ly hôn với ông S, giao con chung Ngô Thị Kim T, sinh ngày 23/02/2015 cho bà Otiếp tục nuôi dạy, ông S có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con chung 745.000đ/tháng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đồng thời, bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố Châu Đốc. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân, Bà O và ông S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Lạc, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình thế nhưng giữa bà O và ông S đã mâu thuẫn, sống xa cách nhau từ năm 2019 đến nay, cả hai không còn quan tâm đến nhau, bỏ mặc, mạnh ai nấy sống, cho thấy hôn nhân giữa bà O và ông S thuộc tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà O yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, đề nghị chấp nhận ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung:
Bà O và ông S xác định trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Thị Kim T, sinh ngày 23/02/2015 hiện đang sống cùng bà O. Bà O có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, xét yêu cầu nuôi con chung của bà O là có căn cứ, theo như quan điểm đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Bà O yêu cầu ông Ngô Hoàn S cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng.
Xét việc cấp dưỡng con chung là nghĩa vụ của người không nuôi dưỡng con, trong trường hợp này bà O đang nuôi dưỡng con, nên việc bà O yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do không triệu tập được ông S nên không ghi nhận được ý kiến về việc thỏa thuận mức cấp dưỡng, do đó không có cơ sở để chấp nhận mức cấp dưỡng hàng tháng là 2.000.000 đồng/tháng theo yêu cầu của bà O, mà chỉ xem xét cấp dưỡng theo quy định của pháp luật không quá ½ mức lương tối thiểu là 745.000 đồng/tháng cho đến khi con chung Ngô Thị Kim T, sinh ngày 23/02/2015 trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động.
Bà O cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông S trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm, nguyên đơn O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp. Bị đơn Ngô Hoàn S không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông Ngô Hoàn S phải chịu án phí dân sự cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm nghìn).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Thị Kiều O.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kiều O được ly hôn Ông Ngô Hoàn S.
[2] Về con chung: Bà Lê Thị Kiều O được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Ngô Thị Kim T, sinh ngày 23/02/2015 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Bà Lê Thị Kiều O cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở Ông Ngô Hoàn S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Ngô Hoàn S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Ngô Thị Kim T, sinh ngày 23/02/2015 số tiền là 745.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng hàng tháng từ khi án có hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Kiều O phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003433 ngày 02 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; Bà Lê Thị Kiều O đã nộp đủ án phí. Ông Ngô Hoàn S không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự: Ông Ngô Hoàn S phải chịu án phí dân sự cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm nghìn).
[6] Giấy chứng nhận kết hôn số 157 ngày 10/9/2014 của Ủy ban nhân dân xã Hòa Lạc, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
[7] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ, Bà Lê Thị Kiều O, Ông Ngô Hoàn S có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát TPCĐ (2); - Tòa án tỉnh An Giang (1); - Thi hành án DS TPCĐ (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Ngọc Hà |