- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diệu Th - Trần M "Ly hôn""
- Tòa quyết gì? ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH H ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2020/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 9 năm 2020 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D - TỈNH H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trực
Bà Bùi Thị Huê
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D - H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D tham gia phiên tòa: Ông
Huỳnh Tấn Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 208/2020/TLST-HNGĐ ngày 01
tháng 6 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
34/2020/QĐXXST-ST ngày 14/8/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số
24/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01/9/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu T - sinh năm 1989;
Địa chỉ: thôn 2, xã H, huyện L, tỉnh H.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Trần Văn M - sinh năm 1989;
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn D, huyện D.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 27/5/2020, bản tự khai ngày 03/6/2020 và quá
trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diệu T trình bày: chị và anh
Trần Văn M tự nguyện yêu thương và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND thị
trấn D vào năm 2012. Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng luôn có những bất
đồng về tính cách, anh M ham mê cờ bạc, không có sự quan tâm, chăm sóc gia đình,
dẫn đến giữa chị và anh M thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, có những lời nói
làm tổn thương đến nhau. Nhiều lần chị đã tạo điều kiện nhưng anh M vẫn không
thay đổi, gia đình không hạnh phúc. Chị và anh M không chung sống với nhau từ
năm 2017 cho đến nay. Chị xác định không còn tình cảm yêu thương, quan tâm
chăm sóc đến anh M nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với bị
đơn anh Trần Văn M.
Về con chung: có 01 con chung là Trần Minh H- sinh ngày 17/10/2013. Chị
có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh M cấp
dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị xác định giữa chị và anh M không có nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh Trần Văn M
đến Tòa án làm việc, nhưng anh M vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diệu T vẫn giữ nguyên yêu cầu
xin được ly hôn với anh Trần Văn M; con chung: có 01 con chung là Trần Minh H-sinh ngày 17/10/2013. Chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung: chị và anh M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: chị xác định giữa chị và anh M không có nợ chung. Bị đơn anh Trần Văn M vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D - H phát biểu ý kiến: Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn anh Trần Văn M vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diệu T xin ly hôn với anh Trần Văn M. Về con chung: Giao cháu Trần Minh H cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không xem xét. Về nợ chung: chị T xác định không có nên không xem xét. Về án phí: chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Văn M.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Diệu T và anh Trần Văn M tự
nguyện yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 156/2012 ngày 31/8/2012 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, theo chị T nguyên nhân là do anh M ham mê cờ bạc, không lo làm ăn, chăm sóc, quan tâm đến gia đình, luôn dùng lời nói làm tổn thương chị T. Chị T xác định không còn quan hệ vợ chồng với anh M từ năm 2017 cho đến nay. Do đó, tình cảm chị T dành cho anh M không còn. Tại biên bản xác M ngày 14/8/2020 bà Phan Thị Thúy Hoa - Chủ tịch Hội phụ nữ thị trấn D thể hiện: Vợ chồng chị T và anh M không có yêu cầu hòa giải mâu thuẫn gia đình nên Hội phụ nữ không nghe thông tin gì về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh M. Anh Trần Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh M không đến Tòa án làm việc. Điều này chứng tỏ, anh M không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh M đã không còn tình cảm yêu thương gì với nhau, dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không
thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu
của chị Nguyễn Thị Diệu T được ly hôn với anh Trần Văn M là phù hợp với quy
định của pháp luật.
[3]. Về con chung: Chị T và anh M có 01 con chung là Trần Minh H- sinh
ngày 17/10/2013. Hiện tại, chị T đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cháu H, có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu H và không yêu
cầu anh M dưỡng nuôi con chung. Đây là yêu cầu chính đáng của chị T phù hợp
với pháp luật nên cần để chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục
con chung.
[4]. Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về nợ chung: chị T xác định giữa chị và anh M không có nợ chung nên
Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: chị T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy
định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Diệu T
được ly hôn với anh Trần Văn M.
[2]. Về con chung: Giao con chung là Trần Minh H- sinh ngày 17/10/2013,
cho chị Nguyễn Thị Diệu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung. Chị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Trần Văn M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được
cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị T, anh M
có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con
chung.
[3]. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4]. Về nợ chung: không có.
[5]. Về án phí: chị Nguyễn Thị Diệu T nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà chị T
đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0001625 ngày 01/6/2020 tại Chi cục thi
hành án dân sự huyện D - H; chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H; - VKSND huyện D; - Chi cục thi hành án dân sự huyện D; - Ủy ban nhân dân thị trấn D (nơi đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. | Vũ Thị Kim Vinh |