- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/HSST Ngày: 17/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Châu Mạnh Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba và ông Nguyễn Xuân Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2019/HSST ngày 13/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST –HS ngày 03/10/2019 đối với:
Bị cáo: Trần Văn C, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/11/1989, nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nghề nghiệp: Không nghề; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Không tôn giáo; Trình độ học vấn: Lớp 08/12. Con ông: Trần Văn C và con bà: Trần Thị N; Vợ con chưa có.
Tiền sự: Không
Tiền án: có 01 tiền án: Ngày 28/09/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình xử phạt 18 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 24/2017/HSST.
Nhân thân : Ngày 02/06/2015 bị Tòa án nhân huyện Q, tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số : 07/2015/HSST.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hoàng Văn K, địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn C1, địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
- Những người làm chứng:
1. Anh: Trần Văn Thường, địa chỉ: Thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn T, địa chỉ: Thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 03/05/2019 Trần Văn C, sinh năm 1989 ở thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NOUVO,Biển kiểm soát(BKS): 73N6- 6263 đi từ thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình về nhà dọc theo Quốc lộ 1A, khi đi ngang qua nhà ông Hoàng Văn K, sinh năm 1956 ở thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình quan sát, phát hiện trong nhà ông K tắt đèn đi ngủ nên Chuân để xe mô tô ở lề đường, sau đó nhảy hàng rào đi về phía sau nhà ông K, C lấy một bao lác màu đen ở gần chuồng gà rồi đi vào phía trong chuồng bắt trộm được 01 (một) con gà trống và 05 (năm) con gà mái, loại gà kiến. C bỏ tất cả số gà lấy trộm được vào trong bao lác màu đen rồi xách đi ra lại phía ngoài Quốc lộ, thì bị anh Trần Văn T ở thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình phát hiện hô hoán truy đuổi nên C bỏ chạy và bỏ lại bao lác đựng gà chạy về phía xe mô tô đang dựng, lên xe tẩu thoát, lúc này có anh Nguyễn Văn T ở thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình cũng tham gia truy đuổi C, khống chế C, C giằng co và bỏ chạy về theo hướng huyện L để lại bao lác đựng số gà vừa lấy trộm và chiếc xe mô tô tại hiện trường.
Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 05/06/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quảng Ninh kết luận: 05 (năm) con gà kiến mái, 01 (một) con gà kiến trống có trị giá là 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).
Về vật chứng: Ngày 03/05/2019, Công an huyện Quảng Ninh đã tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NOUVO, mang BKS: 73N6-6263, màu sơn vàng - đen, xe đã qua sử dụng ; 01 (một) bao lác màu đen, kích thước (01x01)m, bao lác đã qua sử dụng và 06 (sáu) con gà, loại gà kiến, gồm 05 (năm) con gà mái, 01 (một) con gà trống.
Ngày 06/08/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại: 06 (sáu) con gà, loại gà kiến gồm 05 (năm) con gà mái và 01 (một) con gà trống cho bị hại là ông Hoàng Văn K.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Hoàng Văn K đã nhận lại tài sản bị mất và không có ý kiến gì.
Bản cáo trạng số 29/THQCT-KSĐT-KT ngày 13/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trần Văn C tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Bản cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn Ch từ 6 đến 9 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, mang BKS: 73N6-6263, màu sơn vàng - đen, xe đã qua sử dụng trả lại cho chủ sở hữu.
- 01 (một) bao lác màu đen, kích thước (01x01)m, bao lác đã qua sử dụng không có giá trị sử cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và quá trình điều tra, thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ, đúng thực tế khách quan và đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối cải nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Phiên tòa vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi liên quan và người làm chứng. Tuy nhiên, sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Vào khoảng 22 giờ, 00 phút ngày 03/5/2019, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo C đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích theo Bản án số: 24/2017/HSST ngày 28/09/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình xử phạt 18 tháng tù giam, chấp hành xong hình phạt ngày 27/11/2018 đã lén lút đột nhập vào nhà ông Hoàng Văn K ở tại thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, dùng bao lác đi vào trong chuồng gà bắt trộm 01 con gà trống và 05 con gà mái. Theo kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự 6 con gà là 11 kg tại thời điểm bị mất trộm có trị giá 900.000 đồng. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Trần Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[ 3] Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, không chỉ xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, lo lắng và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân. Bị cáo có nhân thân xấu ngày 02/06/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản’’ theo bản án số : 07/2015/HSST. Bị cáo có 01 tiền án Ngày 28/09/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 18 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 24/2017/HSST đến ngày 27/11/2018 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt và ra trại. Đáng lẽ phải lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân để tích cực rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Qua đó thể hiện bị cáo là người khó giáo dục cải tạo, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, do vậy, cần áp dụng các quy định của pháp luật để xử phạt nghiêm đối với bị cáo .
[ 4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, xét thấy cần cách ly bị cáo C ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[ 5] Về vật chứng vụ án:
01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NOUVO, mang BKS: 73N6-6263, màu sơn vàng - đen, xe đã qua sử dụng thuộc sở hữu của chị Trần Thị C (chị gái ruột của Trần Văn C). Năm 2010, chị Trần Thị C đã cắt hộ khẩu và đi khỏi địa phương, trước khi đi chị C đưa chiếc xe trên cho ông Trần Văn C1 (bố đẻ của chị Trần Thị C và Trần Văn C) để sử dụng đi lại hàng ngày. Quá trình sử dụng phương tiện ông Trần Văn C1 không biết C thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho ông Trần Văn C1 là phù hợp.
- 01 (một) bao lác màu đen, kích thước (01x01)m, bao lác đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy
- 06 con gà đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu, quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai khiếu nại hoặc có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[ 6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hoàng Văn K đã nhận lại tài sản và không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào quy định tại Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố : Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự :
- Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, mang BKS: 73N6-6263, màu sơn vàng - đen, xe đã qua sử dụng cho ông Trần Văn C1, địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
- Tiêu hủy 01 (một) bao lác màu đen, kích thước (01x01)m, bao lác đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên có đặc điểm được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình ngày 13/9/2019.
3. Về trách nhiệm dân sự : Không xem xét
4. Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/10/2019, người bị hại, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi cư trú có quyền kháng cáo bản án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Quảng Ninh; - Công an huyện Quảng Ninh; - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã G; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Châu Mạnh Cường |