vanban.org

Bản án 29/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, Khoản 1, Điều 134; Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, Khoản 1, Điều 134; Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 29/2019/HS-ST
Ngày 29/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng

Bà Trần Ngọc Phƣơng

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 19/2019QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng N, sinh năm 1993 tại tỉnh N1; hộ khẩu thƣờng trú: Xóm 7, xã L, huyện Y, tỉnh N1; tạm trú: Khu phố 1B, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng V, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị C (chết); bị cáo có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất là bị cáo; vợ tên Nguyễn Thị Q, sinh năm 1992; bị cáo có 01 ngƣời con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2018; bị cáo có mặt.

Bị hại: Đinh Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ thƣờng trú: Thôn N2, xã C, huyện P, tỉnh B; tạm trú: Xã L, huyện L1, tỉnh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Đinh Thị H làm nghề massage tại địa chỉ 14/2 đƣờng M, khu phố B2, phƣờng Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Quá trình làm H có quen biết với Nguyễn Trọng N, Th và C1 (chƣa rõ nhân thân lai lịch).

Ngày 21/8/2018, H nghi ngờ Nguyễn Trọng N và C1 lấy trộm tài sản của khách đến massage, nên H có nói với Th yêu cầu N trả lại tài sản. Đến khoảng 02 giờ ngày 22/8/2018, N điện thoại cho H, nói: “Chuyện của tôi thì tôi làm, chuyện của bà thì bà làm, bà đòi báo Công an hả tôi đâm chết mẹ bà”.

Khoảng 21 giờ Ngày 22/8/2018, N đang ở phòng trọ thì C1 đến rủ N đi gặp H để nói chuyện. Sau đó, N điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Cƣờng đến kiốt của H có địa chỉ trên, trên đƣờng đi N ghé vào vựa phế liệu nhặt 01 ống tuýp sắt dài khoảng 30cm, khi đến nơi C1 ngồi trên xe mô tô, N cầm ống tuýp sắt đi đến gặp H nói chuyện, giữa N và H cự cãi nhau, N dùng ống tuýp sắt đánh vào đầu của H 01 cái gây thƣơng tích cho H. Sau đó, N và C điều khiển xe tẩu thoát. Đinh Thị H trình báo sự việc đến Công an phƣờng Thuận Giao, tỉnh Bình Dƣơng.

Quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An, Nguyễn Trọng N đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng ống tuýp sắt gây thƣơng tích cho Đinh Thị H. Riêng ống tuýp sắt bị cáo dùng để gây thƣơng tích cho Đinh Thị H sau khi gây án bị cáo đã vứt bỏ không truy tìm lại đƣợc.

Bản Kết luận giám định pháp y số 318/2018/GĐPY Ngày 28/8/2018 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng xác định: Thƣơng tích tại thời điểm giám định là vết thƣơng trán trái dài 1 x 0,1cm, sẹo lành. Kết luận: Vết thƣơng hình thành theo cơ chế: Sẹo từ trên xuống, hƣớng từ trƣớc ra sau, bờ không sắc gọn, có khả năng do vật tày có cạnh gây ra. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên là 01%.

Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKS-TA ngày 04/01/2019 truy tố bị cáo Nguyễn Trọng N về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo Điểm a, Khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N từ 06 tháng đến 08 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về lo cho gia đình.

Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị hại Đinh Thị H trình bày: Giữ nguyên toàn bộ lời khai về thời gian, địa điểm, nguyên nhân dẫn đến việc bị hại bị bị cáo N gây thƣơng tích. Bị hại xác định vết thƣơng trán trái dài 1 x 0,1cm là do một mình bị cáo N dùng ống sắt gây ra cho bị hại. Bị hại thống nhất với kết luận giám định pháp y số 318/2018/GĐPY Ngày 28/8/2018 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo N bồi thƣờng. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trọng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, ngƣời làm chứng tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 22/8/2018, tại địa chỉ 14/2 đƣờng Mỹ Phƣớc Tân Vạn thuộc khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Nguyễn Trọng N đã có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là ống tuýp sắt dài khoảng 30cm đánh vào vùng đầu (trán) của bị hại Đinh Thị H gây thƣơng tích với tỷ lệ thƣơng tích là 01 %. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo Điểm a, Khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 29/CT-VKS-TA Ngày 04/01/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo Nguyễn Trọng N là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thƣơng tích cho bị hại là nguy hiểm và bị pháp luật cấm nhƣng vì thù tức cá nhân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật và sức khỏe của ngƣời khác. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

3 Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

3.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

3.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);

4 Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt từ 06 tháng đến 08 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đối tƣợng tên Cƣờng điều khiển xe mô tô chở bị cáo N đến chổ bị hại để gây thƣơng tích cho bị hại H do chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên chƣa xử lý, khi nào xác định đƣợc sẽ xử lý sau.

7 Về án phí sơ thẩm: Bị cáo N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm a, Khoản 1, Điều 134; Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điều 136, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ Ngày 14/9/2018.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án sơ thẩm hoặc từ Ngày bản án sơ thẩm đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ