- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/HS-ST Ngày: 24-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Riều; Ông Đàm Kiến Dân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Công Triều - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Văn G (tên gọi khác: M), sinh ngày: 20/6/1996, tại tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố B, Phường H, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Lê Quang Đ, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Huỳnh Thị Bạch N, sinh năm 1967; Có vợ và 01 con sinh năm 2016; Tiền án: không; Tiền sự: 01 lần. Cụ thể: Ngày 10/10/2018, Công an xã Long Thuận, thị xã Gò Công ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002105/QĐ-XPVPHC, xử phạt Lê Văn G số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản (chưa đóng tiền phạt); Bị cáo bị tạm giam ngày 27/8/2019; Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Chị Nguyễn Hiếu T, sinh năm 1975; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 71 T, Khu phố B, Phường H, thị xã G, tỉnh Tiền Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Cao Văn H, sinh năm 1987; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố B, Phường H, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
2. Anh Trần Nhật T, sinh năm 1999; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố B, Phường H, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
3. Chị Lê Ngọc Thúy A, sinh năm 1977; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp H, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
4. Anh Huỳnh Chí T, sinh năm 1988; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố B, Phường H, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/02/2019, bị cáo Lê Văn G đi bộ từ nhà trong hẻm Phước Thiện ra khu vực Ao Trường Đua ngồi chơi thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại quán cà phê V do chị Nguyễn Hiếu T làm chủ. Bị cáo G leo lên hàng rào rồi trèo vào gác của quán để tìm tài sản nhưng không tìm thấy. Bị cáo G tiếp tục đi xuống cầu thang và đi ra phía sau quán thì phát hiện chị T đang nằm ngủ trên giường cùng với con, bên cạnh có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, 01 máy tính bảng Ipad Gen6 và 01 cục sạc dự phòng. Bị cáo G đã lấy tất cả tài sản trên bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài bằng con đường vào ban đầu.
Đến khoảng 02 giờ sau, bị cáo G đem điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S và 01 cục sạc dự phòng vừa trộm được bán cho anh Cao Văn H với giá 500.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, bị cáo G bán điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 cho anh Trần Nhật T với giá 1.000.000 đồng.
Đến khoảng 18 giờ, ngày 10/02/2019, bị cáo G bán máy tính bảng Ipad Gen6 trộm được cho chị Lê Ngọc Thúy A với giá 700.000 đồng. Vì lo sợ bị phát hiện bị cáo G đã trốn khỏi thị xã Gò Công. Sau đó, bị cáo G có điện thoại nhờ anh trai là Huỳnh Chí T đến gặp chị Anh chuộc lại máy tính bảng đem trả cho chị T.
Tang vật thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám; 01 Ipad Gen6 màu vàng hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng, bộ nhớ trong 64GB, màn hình có 01 vết nứt.
Theo Kết luận định giá số 01/KL-HĐĐG ngày 06/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Gò Công:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, dung lượng 16GB, màu xám, số Imei: 35930806960172 đã qua sử dụng giá 2.000.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, dung lượng 64GB đã qua sử dụng giá 1.500.000 đồng.
- 01 Ipad Gen6 2018 Wifi 32GB, màu vàng hồng, đã qua sử dụng giá 4.000.000 đồng.
- 01 sạc dự phòng Hammer Ham LCD120 12000mAh, đã qua sử dụng giá 200.000 đồng.
Tổng giá trị là 7.700.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSTXGC ngày 29/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công đã truy tố bị cáo Lê Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện, không có ý kiến tranh luận bổ sung. Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày 27/8/2019.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Gò Công đã trao trả cho chủ sở hữu các tài sản thu giữ vào ngày 08/3/2019 và ngày 31/5/2019 là đúng quy định pháp luật, đề nghị ghi nhận.
Về số tiền thu lợi bất chính: Bị cáo G đã thu lợi bất chính tổng số tiền 2.200.000 đồng nhưng chưa nộp lại, đề nghị buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự:
- Sau khi nhận lại tài sản bị mất, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.
- Anh Huỳnh Chí T không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 700.000 đồng mà anh đã bỏ ra chuộc lại Ipad.
- Anh Cao Văn H và anh Trần Nhật T không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã bỏ ra mua điện thoại.
Nên đề nghị ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng để nghị án: Bị cáo đã biết lỗi do mình gây ra, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm của mình. Mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo G khai nhận vì muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi đột nhập vào quán cà phê Vũ Di và lợi dụng lúc chị Nguyễn Hiếu T đang ngủ, trộm được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, 01 máy tính bảng Ipad Gen6 và 01 sạc dự phòng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 7.700.000 đồng. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, đồng thời hành vi ấy còn gây mất trật tự ở địa phương. Bị cáo là thanh niên, đủ sức lao động để kiếm sống và tạo ra của cải vật chất cho bản thân. Bị cáo muốn có tiền tiêu xài nhưng lại chay lười lao động, tham lam nên mới dấn thân vào con đường tội phạm. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật mà vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, việc áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một khoản thời gian tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có một tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp tiền phạt), thể hiện bị có nhân thân không tốt. Tuy nhiên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thái độ của bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn; tài sản chiếm đoạt đã trao trả cho bị hại. Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại đúng quy định pháp luật nên ghi nhận.
Về số tiền thu lợi bất chính: Bị cáo G đã thu lợi bất chính từ việc bán các tài sản trộm được với tổng số tiền 2.200.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết, nên cần buộc bị cáo nộp lại và sung vào Công quỹ nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Hiếu T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì, anh Huỳnh Chí T, anh Cao Văn H và anh Trần Nhật T không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn G 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2019.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lê Văn G nộp số tiền thu lợi bất chính 2.200.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn G phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công; - Cơ quan Thi hành án hình sự thị xã Gò Công; - Cơ quan Thi hành án hình sự tỉnh Tiền Giang; - Lưu: AV, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thúy |