- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 52 Bộ luật H nh sự
| TAND HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/HS-ST Ngày 05-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N N H YỆN YÊN ĐỊNH ỈNH HANH H A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Viết Nguyên
2. Ông Lưu Thế Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ý T a án, T a án nh n d n huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa
- i i n i n ki s t nh n n hu n ên nh Thanh a tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên
Trong ngày 05 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở T a án nh n d n huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: NNA, sinh ngày 11/7/1988, tại thị Y, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố Sao Đỏ, thị trấn Y, Yên Định, t nh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; tr nh độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông NNL, sinh năm 1952, con bà Phạm Thị Thăng (đã chết); gia đ nh có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; bị cáo có vợ HPA, sinh năm 1997; có 02 con, lớn 7 tuổi, nhỏ 3 tuổi.
Tiền sự: không;
Tiền án: 02 tiền án.
- Ngày 12/9/2014, bị T a án nh n d n thành phố Đà Lạt, t nh L m Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản
- Ngày 29/8/2017 bị T a án nh n d n thành phố Đà Lạt, t nh L m Đồng xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2019 tại Trại tạm giam Công an t nh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.
2 Họ và tên: PTD, sinh ngày 20/8/1976, tại thị trấn Y, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa Nơi cư trú: Khu phố Sao Đỏ, thị trấn Y, huyện Yên Định, Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; tr nh độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hồng Sơn, sinh năm 1943, con bà Lê Thị Việt, sinh năm 1948; gia đ nh có 04 chị em, bị cáo là thứ 3; bị cáo có vợ Trương Thị Thúy, sinh năm 1984, có 02 con, lớn 4 tuổi, nhỏ 3 tuổi.
Tiền án, tiền sự: Không
Nh n th n: Ngày 26/5/2010, bị T a án nh n d n quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng ể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/5/2010) về tội “Vi phạm quy định về điều hiển phương tiện giao thông đường bộ” Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Trường THCS và THPT T.
Địa ch : Khu phố 2, Thị trấn Y, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
Người đại diện: Lưu Vĩnh Tuấn – Chức vụ: Phó hiệu trưởng nhà trường.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh TVT, sinh năm 1973
Trú tại: Xóm 10, xã Quảng Phú, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.
2. Ông LHP, sinh năm 1952, ông NNL, sinh năm 1952, chị HPA, sinh năm 1997.
Đều trú tại: Thị trấn Y, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.
- Các người làm chứng: NVC, sinh năm 1976 và NTH, sinh năm 1975
Đều trú tại: Thị trấn Y, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.
Tại phiên t a có mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị HPA, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng khác.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 23/12/2018, PTD ở hu phố Sao Đỏ, thị trấn Y, huyện Yên Định gọi điện rủ NNA, người cùng hu phố đi chơi, Bị cáo NNA nhận lời đi xe mô tô nhãn hiệu JIULONG, biển iểm soát 36M4-0844 của gia đ nh ra ngoài đường th gặp bị cáo PTD đi bộ tới Khi gặp nhau, bị cáo PTD rủ bị cáo NNA đi trộm cắp tài sản, Bị cáo NNA đồng ý điều hiển xe máy chở Bị cáo PTD đi t m tài sản trộm cắp Khi cả hai đi đến trường THCS & THPT T thuộc địa phận hu phố 2, thị trấn Y, Bị cáo NNA đi xe vào bên trong trường để đi vệ sinh Tại đ y, Bị cáo NNA phát hiện thấy ở hu vực nhà tắm có 02 chiếc máy bơm nước, 01 chiếc đặt ở góc s n bên ngoài nhà tắm và 01 chiếc đặt ở bên trong nhà tắm, hông có người trông coi, Bị cáo NNA nảy sinh ý định trộm cắp nên quay ra xe lấy chiếc m để sẵn trong cốp xe từ trước, rồi cùng với Bị cáo PTD vào trộm cắp máy bơm NNA dùng m phá hóa cửa, Bị cáo PTD dùng tay tháo lấy trộm chiếc máy bơm nước nhãn hiệu Shuzumi ở bên ngoài nhà tắm, sau đó cả hai đem máy bơm đến nhà anh TVT ở xóm 10, xã Quảng Phú, huyện Thọ Xu n bán chiếc máy bơm cho anh TVT với giá 400 000 đồng Sau hi bán được máy bơm, lúc này hoảng 04 giờ sáng ngày 24/12/2018 Bị cáo NNA nói với anh TVT c n có chiếc máy bơm nữa muốn bán, anh TVT đồng ý xem, nên Bị cáo NNA rủ Bị cáo PTD quay lại trường THCS &THPT T lấy trộm chiếc máy bơm ở bên trong nhà tắm Khi đến nơi, Bị cáo NNA dùng 01 đoạn th p phi 16, dài hoảng 70 cm lấy tại nhà anh TVT nạy bung hóa cửa ph ng tắm, Bị cáo PTD dùng tay tháo chiếc máy bơm nhãn hiệu Sunstar màu vàng - đen, rồi cả hai mang máy bơm đến bán cho anh TVT với giá 500 000 đồng Tổng số tiền bán máy bơm được 900 000 đồng, Bị cáo NNA và Bị cáo PTD chia đôi, mỗi người 450 000 đồng sử dụng chi tiêu cá nh n hết
Theo ết quả định giá tài sản số 02 ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định th : Trị giá chiếc máy bơm nhãn hiệu Shuzumi tại thời điểm bị mất trộm là 700 000đ (Bảy trăm ngh n đồng) và chiếc máy bơm nhãn hiệu Sunstar trị giá tại thời điểm bị mất trộm là 2 200 000đ (Hai triệu hai trăm ngh n đồng)
Tại cơ quan điều tra, NNA và PTD đã thành hẩn khai nhận hành vi trộm cắp 02 chiếc máy bơm của trường THCS &THPT T như đã nêu trên
Quá tr nh điều tra xác định trước thời điểm phạm tội, NNA đã 02 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, PTD đã 01 lần bị kết án về tội Vi phạm quy định về điều hiển phương tiện giao thông đường bộ và đã chấp hành xong h nh phạt của bản án và đã được xóa án tích.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS-YĐ ngày 03/5/2019 của Viện iểm sát nh n d n huyện Yên Định đã truy tố các bị cáo NNA, PTD về tội “Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 của Bộ luật H nh sự
Tại phiên t a sơ thẩm, đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Yên Định giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng x t xử áp dụng hoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật H nh sự. Đề nghị xử phạt NNA từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (21/3/2019).
Áp dụng hoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật H nh sự Đề nghị xử phạt PTD từ 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo từ 12 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm d n sự: Bị hại trong vụ án đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a hoản 1 Điều 47 của Bộ luật H nh sự; điểm a hoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng h nh sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, cụ thể: 01 chiếc kìm cầm tay màu đỏ, đã cũ; 01 ổ khóa Việt Tiệp, màu đen, đã qua sử dụng; 01 ổ khóa Việt Tiệp, màu đen, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa các bị cáo NNA, PTD khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa chị HPA không yêu cầu các bị cáo phải trả lại cho chị số tiền mà chị đã thanh toán cho anh TVT.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG
:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện iểm sát, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự
[2] Về tội danh: Tại phiên t a sơ thẩm, các bị cáo NNA, PTD đã thừa nhận: Vào đêm ngày 23 và sáng ngày 24/12/2018, các bị cáo đã có hành vi l n lút trộm 02 chiếc máy bơm nước của Trường THCS và THPT T, huyện Yên Định, gồm: 01 chiếc nhãn hiệu Shuzumi trị giá 700 000đ và 01 chiếc nhãn hiệu Sunstar trị giá 2 200 000đ. Lời hai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu hác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo NNA và PTD phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trước khi thực hiện tội phạm bị cáo NNA đã từng bị TAND Thành phố Đà Lạt, t nh L m Đồng xét xử 02 lần về tội Trộm cắp tài sản vào năm 2014 và 2017, nhưng giá trị tài sản của lần bị xét xử năm 2017 dưới 2 triệu đồng nên không bị tính là tái phạm Do đó phạm tội lần này bị cáo không bị coi là tái phạm nguy hiểm, ch bị truy tố, xét xử về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo PTD đ y là lần đầu có hành vi trộm cắp tài sản trên 2 triệu đồng nên bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này còn có TVT là người đã mua 02 chiếc máy bơm của NNA và PTD trộm cắp đem bán, quá tr nh điều tra xác định khi mua Thành không biết những tài sản này là tài sản trộm cắp, nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với TVT là đúng quy định của pháp luật.
[3] X t các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự:
Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, bị cáo NNA và bị cáo PTD đã lấy trộm 02 chiếc máy bơm của trường THCS và THPH T vào 2 thời điểm khác nhau là lúc 23 giờ ngày 23/12/2018 và khoảng 04 giờ ngày 24/12/2018, trong đó giá trị tài sản trộm cắp của lần thứ nhất là 700 000đ, của lần thứ hai là 2 200 000đ Do bị cáo NNA đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, nên bị cáo NNA bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Phạm tội từ 02 lần trở lên và Tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo PTD là người không có tiền án, tiền sự, nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Anh có bố là người có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, được tặng huy chương háng chiến, bị cáo PTD có bố là thương binh nên các bị cáo đều được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do tài sản trộm cắp là 02 chiếc máy bơm các bị cáo trộm cắp được của Trường THCS & THPH T đã được cơ quan công an thu hồi từ người mua là anh TVT và đã giao trả lại cho bị hại tiếp tục sử dụng, hiện nay nhà trường không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm gì, nên việc gia đ nh các bị cáo tự nguyện trả tiền cho anh TVT là người mua 02 máy bơm mà các bị cáo trộm cắp được nhưng không biết là tài sản do trộm cắp mà có, hông liên quan đến việc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Do vậy các bị cáo hông được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là Bồi thường hoặc khắc phục hậu quả như Viện kiểm sát đề nghị.
Như vậy, bị cáo NNA và bị cáo PTD đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét khi quyết định hình phạt.
[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hình phạt:
Trong vụ án này có nhiều bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc và phân công vai trò từ trước, không có sự cấu kết chặt chẽ, nên ch là đồng phạm giản đơn
Bị cáo PTD là người khởi xướng việc trộm cắp khi các bị cáo thực hiện trộm cắp chiếc máy bơm thứ nhất nhãn hiệu Shuzumi, nhưng sau đó bị cáo NNA lại là người khởi xướng việc lấy chiếc máy bơm thứ 2 nhãn hiệu Sunstar, cùng nhau thực hiện tội phạm và được ăn chia bằng nhau, do vậy các bị cáo có vai trò như nhau trong vụ án.
Bị cáo NNA là người có nhân thân xấu, đã có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy khi quyết định hình phạt, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Đối với bị cáo PTD tuy năm 2010 đã từng bị xét xử về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, nhưng trước khi phạm tội lần này đã thực hiện xong bản án, là người không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên khi quyết định hình phạt được xem xét mức phạt thấp hơn bị cáo Anh. Bị cáo PTD có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, trước và sau khi phạm tội không vi phạm pháp luật, chấp hành nghiêm các quy định tại hu d n cư được chính quyền địa phương xác nhận, và có nơi cư trú rõ ràng, x t thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, do vậy ch cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo với bị cáo PTD cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bị cáo PTD còn phải nuôi bố bị tai biến, có xác nhận của chính quyền địa phương, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm d n sự: Quá tr nh điều tra cơ quan điều tra đã trả lại tài sản bị trộm cắp cho bị hại, Trường THCS và THPH T hông có yêu cầu g nên không xem xét.
Đối với số tiền mà chị HPA (Vợ bị cáo NNA) đã trả cho anh TVT, tại phiên t a chị Phương Anh hông yêu cầu các bị cáo phải trả lại nên không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 máy bơm mà các bị cáo trộm cắp của Trường THCS và THPT T, sau hi điều tra làm rõ cơ quan điều tra đã trả lại cho Trường THCS & THPT T quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu JIULONG, màu nâu, biển kiểm soát 36M4-0844, đã qua sử dụng Quá tr nh điều tra chứng minh được đ y là xe máy của ông Nguyễn Trọng Luận (bố của bị cáo NNA), ông NNL không biết bị cáo Anh lấy xe làm phương tiện trộm cắp, cơ quan công an đã trả lại cho ông NNL tiếp tục quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 chiếc kìm cầm tay (dạng m điện); 02 ổ khóa Việt Tiệp, màu đen hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, nay đã cũ hông c n giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Ngoài ra bị cáo NNA còn khai: Các bị cáo có dùng một đoạn thép phi 16, dài khoảng 70cm để phá hóa để trộm chiếc máy bơm thứ hai, bị cáo đã vứt đoạn thép tại khuôn viên trường THCS&THPT T, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng hông thu giữ được, nên không có cơ sở xử lý.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 260, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố các bị cáo NNA và PTD phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng hoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật H nh sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo NNA 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 21/3/2019.
Áp dụng hoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật H nh sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo PTD 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo PTD cho UBND Thị trấn Y, huyện Yên Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú th thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a hoản 1 Điều 47 của Bộ luật H nh sự năm 2015; điểm a, c hoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng h nh sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 chiếc kìm cầm tay (dạng m điện), tay cầm màu đỏ, đã cũ; 01 ổ khóa Việt Tiệp, màu đen, đã bị gãy khóa chốt, ổ hóa đã qua sử dụng; 01 ổ khóa Việt Tiệp, màu đen, ổ khóa trong tình trạng khóa, ổ hóa đã qua sử dụng. Các vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK 32/2019 ngày 06/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc NNA, PTD mỗi bị cáo phải chịu 200 000đ án phí h nh sự sơ thẩm nộp ng n sách nhà nước.
4. Về quyền háng cáo: Các bị cáo và chị HPA có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ khác có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND t nh Thanh Hoá; - VKSND t nh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Các bị cáo; bị hại; người có QLNVLQ; - Chi cục THADS Yên Định; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI Đ NG XÉT X SƠ HẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hoàng |