vanban.org

Bản án 29/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 17/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 BLHS: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mậu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mậu H 12(Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Mậu H cho Uỷ ban nhân dân xã Thạch L, Huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mậu Huy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 BLHS: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mậu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2019/HS-ST
Ngày: 17/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ -TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hoàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tá Lợi, nghề nghiệp: Cán bộ phòng GD-ĐT Huyện Thạch Hà.

Ông Trần Quang Cảnh, nghề nghiệp: Cán bộ phòng GD-ĐT Huyện Thạch

Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Thạch Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Lâm, Kiểm sát viên.

Hôm nay, vào hồi 07 giờ 45 phút, ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở-Toà án nhân dân Huyện Thạch Hà mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2019/TLST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên Nguyễn Mậu H, Sinh ngày 18/12/2001; Giới tính: Nam. Tại xã Thạch L, Huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn B- Nhà N, xã Thạch L, Huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 11/12;

Nghề nghiệp: Học sinh.

Con ông Nguyễn Mậu T, sinh năm 1971(đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973. Anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ, con: Chưa có. *Tiền án, tiền sự: Không. *Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa) *Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Mậu H: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973 (Mẹ đẻ của bị cáo). (Có mặt) Nơi cư trú: Thôn B- Nhà N, xã Thạch L, Huyện H, Hà Tĩnh. *Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mậu H có ông Nguyễn Khánh Toàn- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt) *Người bị hại: Ông Nguyễn Mậu T1, sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt) Nơi cư trú: Thôn V, xã Thạch V, Huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. *Đại diện nhà trường phổ thông trung học Lê Qúy Đôn- Huyện Thạch Hà: Bà Phạm Thị Bích L, Giáo viên chủ nhiệm. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ họ hàng và có thời gian sinh sống tại nhà ông Nguyễn Mậu T1 ở Thôn V, xã Thạch V, Huyện H nên Nguyễn Mậu H biết rõ các vị trí, vật dụng để trong nhà, trong đó có 01 chiếc két sắt đựng tiền đặt ở trong phòng ngủ của vợ chồng ông T1 và chìa khóa của két sắt thường để ở dưới gầm tủ gỗ ở gần đó, nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp T sản.

Vào khoảng 10 giờ ngày 03/5/2019, Nguyễn Mậu H một mình đi bộ đến nhà ông Nguyễn Mậu T1, khi đi đến nơi quan sát thấy cổng đóng, nhưng cửa trong nhà mở và không có người ở nhà. Khi nhìn sang nhà ông Nguyễn Hữu S bên cạnh nhà ông T1 thì thấy cổng mở, trong nhà không có người nên H đã đi vào cổng nhà ông S rồi trèo qua tường rào ngăn cách giữa hai nhà đột nhập vào nhà ông T1. Do cửa không khóa nên H đi vào phòng bếp qua lối cửa phụ, rồi lên phòng ngủ của vợ chồng ông T1. Sau đó H đi đến vị trí gầm tủ gỗ lấy chìa khóa rồi mở khóa két sắt, do ông T1 không khóa mật mã nên H đã mở được két sắt. Khi mở két H nhìn thấy bên trong két có một số cọc tiền được buộc lại bằng sợi dây cao su gồm nhiều mệnh giá khác nhau thì H đã lấy ra 03 cọc tiền loại mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng bỏ vào túi quần rồi đóng cửa két lại, rút chìa khóa bỏ lại chỗ cũ, rồi đi về nhà. Khi về đến nhà H đem số tiền vừa lấy trộm được ra đếm thì thấy được 30.000.000 đồng, tiếp đó H lấy ra 02 tờ tiền loại mệnh giá 200.000 đồng để tiêu xài, còn lại 29.600.000 đồng thì H đem cất dấu tại gác lửng (phòng kho) của gia đình. Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, lo sợ hành vi trộm cắp T sản của mình bị phát hiện nên Nguyễn Mậu H đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Thạch Hà đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp lại số tiền 29.600.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm 29.600.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Gồm 50 tờ tiền Polime loại mệnh giá 500.000 đồng và 23 tờ tiền Polime loại mệnh giá 200.000 đồng). Đến ngày 15/5/2019 xét thấy không ảnh hưởng đến công tác điều tra, truy tố, xét xử nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Thạch Hà đã trả lại số tiền trên cho bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại số tiền 29.600.000 đồng từ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Thạch Hà, cùng với số tiền 400.000 đồng do Nguyễn Mậu H và gia đình bồi thường thì anh T1 không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 25/CT-VKSTH, ngày 14/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Nguyễn Mậu H về tội “Trộm cắp Tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thạch Hà giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đồng thời phân tích các T1 tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 99 và Điều 101 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Mậu H mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo cho chính quyền xã Thach L, Huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Khánh Toàn phát biểu bài bào chữa cho bị cáo với nội dung: Trợ giúp viên hoàn toàn đồng T1 với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các T1 tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, sau khi phạm tội đã cùng với gia đình bồi thường đầy đủ khắc phục hậu quả thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo phạm tội khi đang ở độ tuổi vị thành niên; Hơn nữa trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi trong việc quản lý, bảo vệ tài sản. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất có thể.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mậu H không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và thừa nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng.

Tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Mậu H, bà Nguyễn Thị Đ trình bày bà không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, chỉ xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bị hại ông Nguyễn Mậu T1 trình bày: ông hoàn toàn đồng T1 với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và không có ý kiến gì tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất có thể cho bị cáo.

Phát biểu tại phiên tòa cô giáo Phạm Thị Bích L đại diện Trường phổ thông trung học Lê Qúy Đôn trình bày ở trường bị cáo Nguyễn Mậu H luôn chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy định của nhà trường đề ra, tham gia học tập đầy đủ, chưa thấy xẩy ra vi phạm. Bị cáo phạm tội cũng là do bột phát, nhất thời vì vậy đề nghị HĐXX xem xét, tạo điều kiện cho bị cáo một cơ hội để bị cáo sửa chữa sai lầm.

Bị cáo Nguyễn Mậu H nói lời nói sau cùng: Kính thưa HĐXX qua sự việc xẩy ra bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa sai làm lại từ đầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Thạch Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại, trợ giúp viên pháp lý không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo khai nhận, vào khoảng 10 giờ ngày 03/5/2019, Nguyễn Mậu H đã đột nhập vào nhà ông Nguyễn Mậu T1 ở Thôn V, xã Thạch V, Huyện H lấy trộm số tiền 30.000.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp biên bản tạm giữ đồ vật, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các chứng cứ, T liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Nguyễn Mậu H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố T1 thực hiện. Như vậy, đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp T sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

. Xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Mậu H là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, đáng lẽ ra phải không ngừng học tập tu dưỡng, rèn luyện bản thân, tuân thủ pháp luật, nhưng do nhận thức kém, không kiềm chế được lòng tham, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động.Vì thế bị cáo đã dấn thân vào con đường phạm tội và địa điểm đầu tiên mà bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lại chính là nhà chú ruột của mình. Xét hành vi phạm tội của bị cáo không những làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, mà còn gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, do vậy hình vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt thật nghiêm nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường đầy đủ khắc phục hậu quả thiệt hại, sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an Huyện Thạch Hà đầu thú. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa người bị hại đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chiếu cố, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện một phần là do nhận thức pháp luật còn hạn chế, bởi tính đến thời điểm mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới chỉ 17 tuổi 04 tháng 15 ngày, khi phạm tội bị cáo đang là học sinh phổ thổng trung học, nhân thân tốt từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cũng cần tạo cho bị cáo một cơ hội để bị cáo có điều kiện khắc phục, sửa chữa sai lầm và xét thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm.

.Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường đầy đủ khắc phục hậu quả thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội khi đang ở độ tuổi vị thành niên, đầu thú. Đây là các T1 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

.Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại ông Nguyễn Mậu T1 trình bày hiện tại ông đã nhận đủ số tiền 30.000.000đ từ bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 BLHS: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mậu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mậu H 12(Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Mậu H cho Uỷ ban nhân dân xã Thạch L, Huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

[2]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử buộc bị cáo Nguyễn Mậu H phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[3]. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, Người đại diện theo pháp luật của bị cáo, Người bào chữa, Bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ