- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Tú M đối với ông Lâm Vũ T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/HNGĐ-ST Ngày: 25-6-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Văn Nô.
Bà Huỳnh Thị Lượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Thị Tú M, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; tạm trú: Ấp P, xã Ph, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: Ông Lâm Vũ T, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: Khóm B, Phường Q, thành phố C, tỉnh Cà Mau; tạm trú: tổ X, khu phố T, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lý Thị Tú M trình bày:
Về hôn nhân: Bà Lý Thị Tú M và ông Lâm Vũ T chung sống với nhau vào 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 139, quyển số 01 ngày 02-8-2007. Đến khoảng đầu năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông T sống không trách nhiệm với gia đình, bà M đã cho ông T nhiều cơ hội để sửa đổi bản thân, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không đạt được kết quả. Bà M và ông T không còn sống chung từ đầu năm 2019 đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Vũ T.
Về con chung: Bà M và ông T có hai con chung là Lâm Minh Nh, sinh ngày 13-5-2007 và Lâm Minh H, sinh ngày 04-8-2012. Hiện tại con chung Lâm Minh Nh đang sống cùng ông T, con chung Lâm Minh H đang sống cùng bà M nên khi ly hôn, bà M yêu cầu được nuôi con chung Lâm Minh H, giao con chung Lâm Minh Nh cho ông Lâm Vũ T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lâm Vũ T đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển giao tài liệu, chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Tú M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bị đơn ông Lâm Vũ T vắng mặt tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập là vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Bị đơn ông Lâm Vũ T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Tú M và ông Lâm Vũ T chung sống với nhau vào 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 139, quyển số 01 ngày 02-8-2007, là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quá trình tố tụng tại Tòa án, ông T không đến Tòa án cho thấy ông T không thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, đồng thời bà M xác định không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn, do vậy có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà M và ông T có 02 con chung là Lâm Minh Nh, sinh ngày 13-5-2007 và Lâm Minh Huy, sinh ngày 04-8-2012. Xét thấy, con chung Lâm Minh Nh hiện tại đang sống cùng ông T, đồng thời cháu Nh có nguyện vọng sống cùng ông T; cháu Lâm Minh H hiện sống cùng bà M; bà M và ông T chăm sóc con chung đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Do vậy, bà M yêu cầu giao con chung Lâm Minh Nh cho ông T và con chung Lâm Minh H cho bà M nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lý Thị Tú M phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng:
- Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Tú M đối với ông Lâm Vũ T.
1.1. Về hôn nhân: Bà Lý Thị Tú M được ly hôn với ông Lâm Vũ T.
1.2. Về con chung:
Giao con chung Lâm Minh Nh, sinh ngày 13-5-2007 cho ông Lâm Vũ T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Giao con chung Lâm Minh H, sinh ngày 04-8-2012 cho bà Lý Thị Tú M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đông xét xử không xem xét, giải quyết.
Bà Lý Thị Tú M và ông Lâm Vũ T đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Bà M, ông T được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lý Thị Tú M phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0014850 ngày 18-3-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thị xã Tân Uyên (01); - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên (01); - UBND phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (01); - Các đương sự (02); - Lưu: HS, VT (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |