- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu đối với chị Nguyễn Thị Nh.
- Căn cứ chính? Điều 121 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 124 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/DS-ST Ngày 25-12-2019 V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Thanh Bình;
Ông Nguyễn Hồng Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Nh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2019/TLST- DS ngày 10 tháng 10 năm 2019, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2019/QĐST- DS ngày 29 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank). Địa chỉ: Số 18 Trần Hữu Dực, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Hội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc Khánh, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thành D, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền số 510/QĐ-HĐTV-PC ngày 19/6/2014 của Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank cho Giám đốc chi nhánh). Địa chỉ: Số 01, đường Đặng Văn Son, khu phố 2, thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
Người được ủy quyền lại: Ông Lê Thanh S, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền số 303/GUQ-BC ngày 24/12/2019).
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1984
Địa chỉ: Ấp Cao Su, xã Long Giang, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
Ông Sơn, có mặt; chị Nh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 9 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền của nguyên đơn- ông Lê Thanh Sơn trình bày:
Ngày 28/6/2016, Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh ( Ngân hàng) và chị Nguyễn Thị Nh có ký hợp đồng tín dụng số 5708-LAV-201602373/HĐTD, với số tiền vay 100.000.000 đồng; Mục đích sử dụng tiền vay: Chăn nuôi bò; Thời hạn của hạn mức tín dụng: 36 tháng, kể từ ngày 28/6/2016; Kỳ hạn trả nợ cuối cùng: 25/6/2019; Lãi suất vay trong hạn: 10,8%; Lãi suất quá hạn: 150% lãi trong hạn. Tài sản thế chấp: Vay tín chấp, không có bảo đảm bằng tài sản, nhưng Ngân hàng có giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.160,6 m2, thửa đất số 179, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp Cao Su, xã Long Giang, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, được UBND huyện Bến Cầu cấp giấy chứng nhận QSD đất số CH00816 ngày 13/3/2012 do chị Nguyễn Thị Nh đứng tên.
Đến kỳ trả nợ cuối cùng ngày 25/6/2019, chị Nh không thanh toán đúng hạn, Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu đã Nh lần làm việc, thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở chị Nh, nhưng đến nay chị Nh chưa thanh toán nợ.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng yêu cầu chị Nguyễn Thị Nh trả số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 38.620,833 đồng và tiền lãi quá hạn 7.861,139 đồng (nợ tiền lãi trong hạn, quá hạn được tính từ ngày 29/6/2016 đến ngày 25/12/2019), tổng cộng nợ tiền gốc, lãi trong và quá hạn 146.481,972 đồng và yêu cầu chị Nh tiếp tục trả tiền lãi tiếp theo của hợp đồng tín dụng 5708-LAV-201602373/HĐTD ngày 28/6/2016, đồng thời Ngân hàng sẽ trả giấy chứng nhận QSD đất của chị Nh như trên cho chị Nh khi chị Nh trả nợ xong.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị Nh: Sau khi thụ lý Tòa án đã tống đạt, niêm yết giấy triệu tập, thông báo thụ lý, niêm yết thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo hòa giải đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng chị Nh không chấp hành theo giấy triệu tập, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia hòa giải, nên Tòa án tiến hành đưa ra xét xử vắng mặt chị Nh theo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết cho đến khi đưa ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bị đơn chị Nh đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia hòa giải để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nh được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự là không vi phạm về tố tụng.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đối với chị Nguyễn Thị Nh; Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm theo pháp luật quy định.
- Những yêu cầu, kiến nghị đề nghị khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Bị đơn chị Nguyễn Thị Nh có địa chỉ: ấp Cao Su, xã Long Giang, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị Nh được Tòa án niêm yết triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án quyết định đưa ra xét xử vắng mặt chị Nh theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Ngày 28/6/2016, chị Nguyễn Thị Nh có đến Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh có ký hợp đồng tín dụng số 5708-LAV-201602373/HĐTD để vay số tiền gốc 100.000.000 đồng để chăn nuôi bò; Thời hạn: 36 tháng, kể từ ngày 28/6/2016; Kỳ hạn trả nợ cuối cùng: 25/6/2019; Lãi suất vay trong hạn: 10,8%; Lãi suất quá hạn: 150% lãi trong hạn. Vay tín chấp, không có bảo đảm bằng tài sản, nhưng chị Nh có giao cho Ngân hàng giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.160,6 m2, thửa đất số 179, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp Cao Su, xã Long Giang, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, được UBND huyện Bến Cầu cấp giấy chứng nhận QSD đất số CH00816 ngày 13/3/2012 do chị Nh đứng tên, để đảm bảo Thi hành án, khi chị không khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, chị Nh đã nhận đủ số tiền vay theo hợp đồng tín dụng, nhưng tính từ ngày 25/6/2019 chị Nh chưa thanh toán bất cứ khoản tiền nợ gốc, tiền lãi của hợp đồng cho Ngân hàng . Chị Nh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng kể từ ngày 25/6/2019 toàn bộ dư nợ gốc còn lại của khoản nợ trong hợp đồng tín dụng trên đã bị chuyển thành nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 5708-LAV-201602373/HĐTD ngày 28/6/2016.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hợp đồng tín dụng số 5708-LAV-201602373/HĐTD ngày 28/6/2016 thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận về việc Ngân hàng cho chị Nguyễn Thị Nh vay số tiền 100.000.000 đồng. Tính hợp pháp về nội dung, hình thức hợp đồng tín dụng phù hợp theo quy định pháp luật nên khi chị Nh vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận thì Ngân hàng có quyền khởi kiện. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu là có căn cứ nên chấp nhận, cần buộc chị Nh phải thực hiện nghĩa vụ của bên vay số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 38.620,833 đồng và tiền lãi quá hạn 7.861,139 đồng (nợ tiền lãi trong hạn, quá hạn được tính từ ngày 29/6/2016 đến ngày 25/12/2019), tổng cộng nợ tiền gốc, lãi trong và quá hạn 146.481,972 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo của hợp đồng tín dụng số 5708-LAV-201602373/HĐTD ngày 28/6/2016.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và các căn cứ nhận định trên, có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng. Buộc chị Nh trả số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 38.620,833 đồng và tiền lãi quá hạn 7.861,139 đồng (nợ tiền lãi trong hạn, quá hạn được tính từ ngày 29/6/2016 đến ngày 25/12/2019), tổng cộng nợ tiền gốc, lãi trong và quá hạn 146.481,972 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo của hợp đồng tín dụng số 5708-LAV-201602373/HĐTD ngày 28/6/2016.
Đối với giấy chứng nhận QSD đất của chị Nh đứng tên Ngân hàng đang giữ, không phải là tài sản thế chấp do vậy Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại cho chị Nh.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu được chấp nhận, nên chị Nh phải chịu số tiền 7.324,000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 63; Khoản 1 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 121, Điều 122, Điều 124, Điều 285, Điều 290, Điều 318, Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
Căn cứ Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
Tuyên xử
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu đối với chị Nguyễn Thị Nh.
Buộc chị Nh trả cho Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 38.620,833 đồng và tiền lãi quá hạn 7.861,139 đồng (nợ tiền lãi trong hạn, quá hạn được tính từ ngày 29/6/2016 đến ngày 25/12/2019), tổng cộng nợ tiền gốc, lãi trong và quá hạn 146.481,972 (một trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm tám mươi mốt nghìn, chín trăm bảy mươi hai) đồng; Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh phải trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.160,6 m2, thửa đất số 179, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp Cao Su, xã Long Giang, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, được UBND huyện Bến Cầu cấp giấy chứng nhận QSD đất số CH00816 ngày 13/3/2012 do chị Nguyễn Thị Nh đứng tên cho chị Nh.
Kể từ ngày Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Nguyễn Thị Nh không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng chị Nh phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ sau ngày 25/12/2019 đối với khoản nợ gốc cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 5708-LAV-201602373/HĐTD ngày 28/6/2016.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu 7.324.000 (bảy triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 3.552.000 (ba triệu năm trăm năm mươi hai nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0022197 ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Agribank - chi nhánh huyện Bến Cầu có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Chị Nh có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H. Bến Cầu; - THADS H. Bến Cầu; - Các đương sự; - Lưu tập án, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) NGUYỄN HOÀNG MAI |