vanban.org

Bản án 29/2018/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần đầu tư thương mại S đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn M về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn M phải trả cho Công ty cổ phần đầu tư thương mại S số tiền gốc 17.611.396.601 đồng ( mười bảy tỷ sáu tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty S khởi kiện Công ty M không thanh toán tiền mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2018/KDTM-ST
Ngày 30/10/2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA -VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Công Trường

2. Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án của Tòa án nh n d n thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30/10/2018, tại trụ sở Tòa án nh n d n thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 39/2018/TLST-KDTM ngày 30/7/2018, về việc“Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXXST-KDTM ngày 25/9/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2018/QĐST-KDTM ngày 11/10/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần đầu tư thương mại S;

Địa chỉ trụ sở: đường x, Phường y, quận z, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp:

Bà Nguyễn Thị Ngọc L, là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Hội đồng quản trị) (vắng mặt).

Bà Lê Thị Cẩm T và bà Nguyễn Thị Kim Hồng C, cư trú tại: đường x, Phường y, quận z, Thành phố Hồ Chí Minh;là người đại diện theo ủy quyền (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T – Luật sư thuộc Công ty Luật SG;

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn M;

Địa chỉ trụ sở: KCN P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

Ông Denis Piche, trú tại Khu công nghiệp Phú Mỹ 1, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, là người đại diện theo pháp luật của bị đơn (Tổng giám đốc Công ty) (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Công ty cổ phần đầu tư thương mại S (Sau đ y gọi tắt là Công ty S) và Công ty trách nhiệm hữu hạn M (Sau đ y gọi tắt là Công ty M) có ký Hợp đồng kinh tế số MV/SMC – 2017 ngày 01/9/2017 về việc mua bán hàng hóa, được coi là hợp đồng khung và áp dụng cho tất cả các đơn đặt hàng của Công ty M với thời hạn hợp đồng kết thúc vào ngày 31/12/2017. Các đơn đặt hàng sẽ xác định về sản phẩm mà Công ty S phải thực hiện, số lượng và giá cả của đơn hàng, cũng như phương thức thanh toán của từng đơn hàng. Cụ thể nội dung hợp đồng như sau: Phía Công ty S có nghĩa vụ cung cấp sản phẩm là thép cho Công ty M, các thông tin mô tả chi tiết,số lượng, khối lượng, thông số kỹ thuật (nếu có), đơn giá và tổng giá trị của các dịch vụ/ hàng hoá mà Metacor yêu cầu cung cấp sẽ được thể hiện trên một Đơn hàng; ngày và địa điểm mà Công ty M yêu cầu cung cấp hàng hoá, các điều khoản và điều kiện giao hàng mà Công ty S phải tuân theo, giá trị của Đơn hàng và phương thức thanh toán là 30 ngày sau ngày nghiệm thu và Công ty M nhận được Hóa đơn giá trị gia tăng. Các Đơn hàng này được xác nhận và ký bởi cả Công ty M và Công ty S.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã hoàn thành nghĩa vụ của bên bán hàng hóa; đồng thời đã xuất Hóa đơn giá trị gia tăng theo đúng từng đơn hàng Công ty M. Tuy nhiên cho đến nay, Công ty M chưa thanh toán tiền hoặc chỉ thanh toán 1 phần đối với 20 đơn hàng; cụ thể như sau: Đơn hàng 09-22 ngày 16/9/2017; đơn hàng số 08-93 ngày 22/9/2017, 29/9/2017; đơn hàng số 08-92 ngày 22/9/2017, 29/9/2017; đơn hàng số 09-04 ngày 22/9/2017; đơn hàng số 09-73 ngày 29/9/2017; đơn hàng số 09-74 ngày 29/9/2017; đơn hàng 09-92 ngày 03/10/2017; đơn hàng số 09-89 ngày 05/10/2017; đơn hàng 10-04 ngày 10/10/2017; đơn hàng 10-19 ngày 10/10/2017; đơn hàng 10-23 ngày 11/10/2017; đơn hàng 10-28 ngày 12/10/2017; đơn hàng 10-48 ngày 24/10/2017; đơn hàng 10-59 ngày 28/12/2017, ngày 31/10/2017, ngày 20/11/2017; hóa đơn 10-65 ngày 25/10/2017, 27/12/2017; đơn hàng 10-68 ngày 28/10/2017; đơn hàng 11-26 ngày 21/11/2017, 27/12/2017; đơn hàng 11-27 ngày 22/11/2017, 27/12/2017; đơn hàng 11-37 ngày 22/11/2017; đơn hàng 11-48 ngày 22/11/2017, ngày 27/11/2017, ngày 30/12/2017.

Theo đơn khởi kiện, Công ty S yêu cầu Công ty M phải thanh toán số tiền nợ gốc là 17.611.396.601 đồng (mười bảy tỷ sáu trăm mười một triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm lẻ một đồng) và lãi suất chậm thanh toán đối với từng đơn hàng bị chậm thanh toán cho đến ngày xét xử.

Tại phiên tòa: Công ty S giữ nguyên yêu cầu đòi số tiền gốc theo khởi kiện và yêu cầu tính lãi chậm thanh toán với 20 đơn hàng còn chưa thanh toán tính đến ngày 30/10/2018.

Quá trình tố tụng bị đơn trình bày: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án nh n d n thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn theo đúng quy định pháp luật nhưng Công ty M không đến làm việc, không có văn bản trả lời và không cung cấp chứng cứ nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không chấp hành, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ và kiểm sát tại phiên tòa đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Công ty S khởi kiện Công ty M, trụ sở: KCN P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, yêu cầu thanh toán tiền mua bán hàng hóa. Tuy hợp đồng có thỏa thuận Tòa án kinh tế thành phố Hồ Chí Minh là Tòa án có thẩm quyền giải quyết nhưng thỏa thuận trên không đúng quy định về thẩm quyền giải quyết tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự nên cần xác định lại thẩm quyền giải quyết như sau: Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Theo Giấy chứng nhận đầu tư số 3501936853 cấp ngày 04/10/2011, cấp đổi lần 2 ngày 11/9/2013 do Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cung cấp cho Tòa án, thì Công ty M có địa chỉ trụ sở: KCN P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; người đại diện theo pháp luật là ông Denis Piche-Tổng giám đốc Công ty; hiện nay Công ty M chưa làm thủ tục giải thể hay phá sản; theo công văn số 1362/BQL-CV ngày 19/7/2018 của Ban quản lý các khu công nghiệp thì lãnh đạo doanh nghiệp Công ty M và người lao động đã không đến làm việc từ ngày 24/5/2018; đồng thời từ ngày 31/5/2018 văn phòng, nhà xưởng và toàn bộ tài sản của Công ty M do Ng n hàng Qu n Đội – chi nhánh Bà Rịa, trông giữ; theo xác minh của Tòa án tại Đồn công an khu công nghiệp T n Thành thì Công ty M không còn hoạt động và tài sản của công ty do Ng n hàng Qu n đội cử người trông coi; theo Công văn số 7677/CT-KTR1 ngày 21/8/2018 của Cục thuế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thì hiện tại Công ty M không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế nên không thể cung cấp thông tin liên quan đến việc kê khai thuế.

Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo Phiên hòa giải, Thông báo Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn theo đúng quy định tại Điều 177, Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại các buổi hòa giải và phiên tòa sơ thẩm lần 2, Công ty M vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Công ty M là đúng quy định của pháp luật.

Xét nội dung vụ án và yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn:

Về nội dung vụ án và nguyên nhân dẫn đến tranh chấp:

Công ty S và Công ty M đã ký hợp đồng bán hàng số MV/SMC -2017 ngày 01/9/2017, với nội dung Công ty S là cung cấp cho Công ty M các sản phẩm thép các loại; thời hạn hợp đồng kết thúc vào ngày 31/12/2017. Do đến nay, Công ty M không thanh toán tiền nợ mua bán hàng hóa nên phát sinh tranh chấp đến Tòa án.

Xét hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa: Khi giao kết hợp đồng, Công ty S và Công ty M được coi là pháp nh n theo đúng quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự 2005. Hợp đồng được thể hiện bằng hình thức văn bản, tự nguyện theo đúng Điều 24 Luật thương mại. Đại diện ký tên trong hai hợp đồng đều là người đại diện theo pháp luật của hai công ty theo quy định tại Điều 86, Điều 91 Bộ luật dân sự năm 2005. Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa không nằm trong danh mục cấm và theo đúng như trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã đăng ký với cơ quan nhà nước. Do đó hợp đồng giữa Công ty S và Công ty M được coi là hợp pháp, có hiệu lực.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Hội đồng xét xử nhận thấy từ các chứng cứ là hợp đồng kinh tế, hóa đơn chứng từ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ phù hợp lời trình bày của nguyên đơn thể hiện việc giao kết giữa Công ty S và Công ty M là đúng sự thật và đúng như nguyên đơn đã trình bày, thể hiện thể hiện Công ty S đã hoàn thành nghĩa vụ của bên bán hàng hóa được quy định tại Điều 34, 35, 36, 37 Luật thương mại nên phía Công ty M có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng theo quy định tại Điều 50 Luật thương mại.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Tại thư xác nhận công nợ ngày 30/4/2018, Công ty M xác nhận còn nợ Công ty S số tiền là 17.611.396.601 đồng (mười bảy tỷ sáu trăm mười một triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm lẻ một đồng). Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc phía Công ty M phải thanh toán số tiền còn nợ là 17.611.396.601 đồng (mười bảy tỷ sáu trăm mười một triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm lẻ một đồng).

Đối với yêu cầu tính lãi chậm thanh toán của phía nguyên đơn thì thấy: Theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại,“Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”,Do Công ty M chậm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng hóa nên Công ty S có quyền yêu cầu lãi chậm thanh toán.

Tòa án đã tiến hành xác minh mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm xét xử thì thấy Ngân hàng TMCP đầu tư phát triển Việt Nam – chi nhánh huyện Tân Thành, quy định mức lãi suất là 11,5%; Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam – chi nhánh huyện Tân Thành, quy định mức lãi suất là 11%; Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Tân Thành, quy định mức lãi suất là 10,10 %.

Do đó việc Công ty S yêu cầu mức lãi suất 9%/năm, là thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử xác định tiền lãi chậm thanh toán của Công ty M được tính toán cụ thể như sau:

Số tiền

Số

giảm

ngày

Số

Số tiền quá

trừ S Số

Ngày Số lƣợng Thành tiền

Thanh toán

thanh

ngày

Lãi quá hạn

Ngày Số Hóa

hạn

thanh T Đơn

Đến Hạn (kg)

(vnd)

(vnd)

toán

quá

(vnd)

Hóa Đơn Đơn

(vnd)

toán T Hàng

(1)

(2)

(3)

(4)

trƣớc

hạn

(10)

(5)

trƣớc

hạn

(9)

hạn

(6)

(8) 1 09-22 16/09/17 0008640 11/15/17

4.946 75.297.904

75.297.904

-

1

18.824

22/09/17 0008752 11/21/17

343.91

18.958 275.128.641 275.128.641

5

1

-2 08-93

29/09/17 0008866 11/28/17

848

12.048.045

12.048.045

12 36.144 -

22/09/17 0008751 11/21/17

665.03

37.063 532.026.723 532.026.723

5

3

-

22/09/17 0008753 11/21/17

607.81

33.841 486.249.836 486.249.836

5

2

-3 08-92

29/09/17

11/28/17

8.004.547

12 24.014 -

0008859

565

8.027.294

29/09/17

11/28/17

22.747

-

72

409 4 09-04 22/09/17 0008750 11/21/17

136.242 2.036.117.457 2.036.117.457

-

40.213.320

22/09/17 0008754 11/21/17

54.297 808.699.098 808.699.098

-

79

15.971.807 5 09-73 29/09/17 0008867 11/28/17

24.761 373.284.456 373.284.456

-

72

6.719.120

29/09/17

11/28/17

261.316.914

-

72

4.703.704 6 09-74

0008868

24.656 372.786.392

29/09/17

11/28/17

111.469.478

-

98

2.731.002 7 09-92 03/10/17 0008933 12/2/17

54.824 819.865.508 819.865.508

-

94

19.266.839

05/10/17

12/4/17

448.896.188

-

92

10.324.612

0008991

77.998 1.174.142.893 8 09-89 05/10/17

12/4/17

725.246.705

-

330

59.832.853

05/10/17 0008990 12/4/17

50.361 758.109.314

758.109.314

-

330

62.544.018 9 10-04 10/10/17 0009066 12/9/17

42.437 634.624.117

634.624.117

-

325

51.563.210 10 10-19 10/10/17 0009067 12/9/17

6.406 95.798.527

95.798.527

-

325

7.783.630 11 10-23 11/10/17 0009082 12/10/17

42.301 634.160.326

634.160.326

-

324

51.366.986 12 10-28 12/10/17 0009098 12/11/17

49.134 736.990.346

736.990.346

-

323

59.511.970 13 10-48 24/10/17 0009338 12/23/17

11.402 247.558.775

247.558.775

-

311

19.247.695

2/26/201

28/12/17 0001373

8

3.391 50.866.643

50.866.643

-

246

3.128.299

31/10/17 0009542 12/30/17

174.986 2.624.718.804

2.624.718.804 -

304

199.478.629 14 10-59

1/19/201

20/11/17 0000084

8

144.004 2.159.995.498

2.159.995.498 -

284

153.359.680

1/19/201

20/11/17 0000085

8

196.514 2.957.789.186

2.957.789.186 -

284

210.003.032

25/10/17 0009361 12/24/17

5.858 119.861.227

119.861.227

-

310

9.289.245 15 10-65 25/10/17 0009362 12/24/17

7.838 207.326.661

207.326.661

-

310

16.067.816

2/25/201

27/12/17 0001335

8

1.163 23.802.550

23.802.550

-

247

1.469.807

28/10/17 0009433 12/27/17

108.769 1.631.494.644

1.631.494.644 -

307

125.217.214 16 10-68

28/10/17 0009434 12/27/17

35.207 528.094.667

528.094.667

-

307

40.531.266

1/20/201

21/11/17 0000164

8

43.791 656.850.933

656.850.933

-

283

46.472.204 17 11-26

2/25/201

27/12/17 0001334

8

10.751 236.134.613

236.134.613

-

247

14.581.312

1/21/201

22/11/17 0000199

8

54.683 820.224.627

820.224.627

-

282

57.825.836 18 11-27

2/25/201

27/12/17 0001333

8

3.588 78.268.114

78.268.114

-

247

4.833.056

1/21/201 19 11-37 22/11/17 0000200

8

5.793 86.897.182

86.897.182

-

282

6.126.251

1/21/201

22/11/17 0000198

8

59.346 890.166.262

890.166.262

-

282

62.756.721

1/26/201

27/11/17 0000342

8

31.904 478.542.139

478.542.139

-

277

33.139.043 20 11-48

1/26/201

27/11/17 0000343

8

14.695 220.422.123

220.422.123

-

277

15.264.232

2/28/201

30/12/17 0001425

8

337

7.452.618

7.452.618

-

244

454.610

TỔNG CỘNG

1.676.

1.573.660 23.859.824.143 6.248.427.542 17.611.396.601

914

1.411.798.257 LÃI SUẤT QUÁ HẠN TỚI NGÀY 30/10/2018

-

1.411.798.257

THANH TOÁN TRƢỚC HẠN

1.676.914

LÃI CÒN PHẢI THANH TOÁN (10)-(8)

1.410.121.343

Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc phía Công ty M phải thanh toán cho Công ty S, tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 30/10/2018, số tiền 1.410.121.343 đồng (một tỷ bốn trăm mười triệu một trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi ba đồng).

Từ các lập luận trên, Hội đồng xét xử buộc Công ty M phải thanh toán cho Công ty S, tổng số tiền: 19.290.669.218 đồng (mười chín tỷ hai trăm chín mươi triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm mười tám đồng).

Bị đơn trong quá trình hoà giải cũng như tại phiên toà hôm nay: Dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã được cung cấp các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhưng phía Công ty M không có mặt, không trình bày ý kiến, không cung cấp chứng cứ cho Tòa án nên coi như từ bỏ quyền bảo vệ mình tại phiên tòa sơ thẩm.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Công ty S.

Công ty M phải nộp: 112.000.000 đồng x 0,1% (19.290.669.218 - 4.000.000.000 đồng) = 127.290.669 đồng (một trăm hai mươi bảy triệu hai trăm chín mươi nghìn sáu trăm sáu mươi chín đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 302, 428 Bộ luật dân sự 2005; Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 42, Điều 50, Điều 306 Luật thương mại;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần đầu tư thương mại S đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn M về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

1. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn M phải trả cho Công ty cổ phần đầu tư thương mại S số tiền gốc 17.611.396.601 đồng ( mười bảy tỷ sáu trăm mười một triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm lẻ một đồng.

2. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn M phải trả cho Công ty cổ phần đầu tư thương mại S số tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 30/10/2018, số tiền 1.410.121.343 đồng (một tỷ bốn trăm mười triệu một trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi ba đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

Công ty M phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: 127.290.669 đồng (một trăm hai mươi bảy triệu hai trăm chín mươi nghìn sáu trăm sáu mươi chín đồng).

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Công ty cổ phần đầu tư thương mại S là 176.129.000(một trăm bảy mươi sáu triệu một trăm hai mươi chín nghìn đồng) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003879 ngày 30/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ