vanban.org

Bản án 29/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 01/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn Q phạm tội “

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn Q mức án 02 năm 06 tháng tù (Hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2018 (ngày tạm giữ). Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Q trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn Q phạm tội “
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2018/HS-ST
Ngày: 01-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Thạch Thị Thúy Ái và bà Trần Thị Bích Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa

, tỉnh Đồng Tháp.

-

Ông Nguyễn Văn Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên:

Q, sinh năm 1981 tại huyện V, tỉnh Đồng Tháp

Nơi cư trú: Ấp Q

B

V, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: Không;

Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12

Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không rõ; quốc tịch: Việt Nam

Con ông:

D, sinh 1951 (chết) và bà

D1, sinh năm 1957

Vợ, con:

Tiền sự: Không

+

Tạm giữ:

Hiện bị cáo đang

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Chị Lê Thanh N, sinh năm 1972

Nơi cư trú: Khóm H, phường R, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

- Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1973

Nơi cư trú: Ấp Y, xã F, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Q

-

“O”

Y

F, thành phố S

cơm, Q

N

Q

N

Q

N đang pha

Q

V2. Minh khi Q

T2

-

-205.51;

-

-

-

Q.

-205.51 Q

M1

T2

Q

S

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/KLĐG ngày 17/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản

M1

kết luận:

Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sa Đéc đã

trao trả một điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu hồng cho

N nhận xong.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSND-TP.SĐ ngày 12/7/2018, Viện k

Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo

Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:

p dụng

Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo

Q về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án 02 năm

03 năm .

, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

làm chứng

số 29/KLĐG ngày 17/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản M1

và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

đủ cơ sở

: tâm “O”

Y

F

Q đã thực hiện

N

Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu

nên

nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi xâm phạm trái pháp luật tài sản của n

tài sản

đã

của bị hại trong việc quản lý tài sản (để điện thoại sạc pin không trông giữ) nên

đã lén lút

tài sản

vụ lợi cá nhân.

vụ thực hiện tội phạm của bị cáo táo bạo, liều lĩnh: tuy

ban đêm, nhưng địa điểm phạm tội là tại

O

Y

F

S, thuộc khu vực nội ô thành phố S, có đông dân cư, thường xuyên có khách ra vào, có bị hại đang

ở

, nếu chiếm đoạt tài sản sẽ dễ bị phát hiện

.

N

nên bị cáo đã lén lút lấy trộm điện thoại rồi nhanh chóng lên xe mô tô tẩu thoát.

Về nhân thân của bị cáo rất xấu, bị cáo đã có 04 tiền án. Nếu biết ăn năn, hối cải, làm lại cuộc đời thì bị cáo phải biết cố gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình. Thế nhưng do bản tính tham lam, xem thường pháp luật, muốn có tài sản mà không phải bỏ ra nhiều công sức lao động, nên bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một điện thoại di động

N để rồi một lần nữa đi vào con đường phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

ành vi của bị cáo

đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) ………………….

g) Tái phạm nguy hiểm…………….”

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. B

phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết

: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản đã thu hồi và hoàn trả cho bị hại xong, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

Về án phí: B

Trịnh Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm g Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn Q phạm tội “

”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn Q mức án 02 năm 06 tháng tù (Hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2018 (ngày tạm giữ).

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

và xử lý xong.

Về án phí: Áp dụng

136

Trịnh Văn Q

200.000 đồng

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Riêng bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ