vanban.org

Bản án 29/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 18/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bùi Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.!

Xử phạt: Bùi Tiến Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe mô tô có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số 29/BB ngày 10/4/2018 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tiến Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.!
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29 /2018/HS-ST
Ngày: 06 - 6 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

Với!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!

!

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Trường Sơn

Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Như Hoa và ông Nguyễn Hữu Đ

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng – Thư ký TAND thành phố Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình tham gia phiên toà: Bà Hoàng Lê Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2018/HSST-QĐ ngày 25 tháng 5 năm 2018 đối với:

Bị cáo BÙI TIẾN Đ. Sinh ngày 24/10/1986; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 24, phường Tân Thịnh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Bùi Văn T, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; có vợ là Trần Thị Khánh H, sinh năm 1991 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017). Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong vụ án khác, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

*!Người!bị!hại:!Bà Bùi Thị H, sinh năm 1965.

Nơi ĐKHKTT: Tổ 25, phường Hữu Nghị, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Bà H có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

!

Theo! các! tài! liệu! có! trong! hồ! sơ! vụ! án! và! diễn! biến! tại! phiên! tòa,! nội! dung!vụ!án!được!tóm!tắt!như!sau:!!

Khoảng 14 giờ ngày 06/12/2017 Bùi Tiến Đ đi bộ từ nhà đến nhà cô ruột là Bùi Thị H để chơi. Đến nơi Đ thấy ngoài sân dựng 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Dream màu sơn nâu, BKS: 28H1-024.08, lúc này vợ chồng chị H đang ngủ, quan sát thấy không có người trông coi Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. Đ đã dùng chiếc chìa khóa mang đi từ nhà mở ổ khóa điện và nổ máy điều khiển xe đi đến nhà bạn là Bùi Văn T, trú tại: xã Tân Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình chơi. Đến ngày 11/12/2017 Đ đã đến cơ quan công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận định giá số 230 ngày 15/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình kết luận: “ 01!xe!mô!tô!nhãn! hiệu! Honda! Dream;! số! loại! HA08SUPER;! màu! sơn! nâu;! số! máy! A08E-1419780;!số!khung!0806AY119758;!biển!số!đăng!ký!28H1-024.08!tình!trạng!đã! qua!sử!dụng!trị!giá:!5.070.000!đồng".!

Cáo trạng số 25/KSĐT ngày 27/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Bùi Tiến Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội đối với bị cáo Bùi Tiến Đ để xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị xử lý tang vật chứng theo qui định pháp luật. Về các tài sản khác bị thu giữ trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập.

Bị cáo Đ thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

. Về hành bị cáo Bùi Tiến Đ đã thực hiện: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Tiến Đ một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Có đầy đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 14 giờ ngày 06/12/2017 khi phát hiện có sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút sử dụng chìa khóa xe mang đi từ ở nhà, mở khóa điện và thực hiện hành vi trộm cắp đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, trị giá 5.070.000 đồng của gia đình bà Bùi Thị H.

Do đó đã có đủ căn cứ xác định bị cáo Bùi Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại thời điểm bị cáo phạm tội, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017: áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì hành vi phạm tội của bị cáo bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lời, muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên cố tình thực hiện.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần có mức hình phạt tù tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự. Xét trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra, được mẹ là bà Nguyễn Thị T gọi điện bị cáo đã tự giác mang chiếc xe mô tô về trả cho chủ sở hữu là bà Bùi Thị H và đến cơ quan công an đầu thú. Tại phiên tòa hôm nay bà H cũng đã xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo không có công việc ổn định, chưa được hưởng lợi từ việc chiếm đoạt xe mô tô của bà H nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.

. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu honda Dream, biển kiểm soát 28H1-024.08, thu giữ trong quá trình điều tra đã được trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp, gia đình bà Bùi Thị H cũng không đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết;

- 01 chìa khóa xe mô tô thu giữ trong quá trình điều tra là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: bị cáo Bùi Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì!các!lẽ!trên,!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Tuyên bố: Bùi Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.!

- Xử phạt: Bùi Tiến Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe mô tô có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số 29/BB ngày 10/4/2018 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.

3. Về án phí: Bị cáo Bùi Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ