- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự Trần Thế Hoàn - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thế H phạm tội ‘’Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ’’.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng điều 60 của…; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP ĐÀ NẴNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2018/HS-ST Ngày 11-5-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bé
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
Bà Dương Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo-Cán bộ Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
TRẦN THẾ H. (Không). Sinh ngày: 03/9/1955; Tại: huyện T, tỉnh T; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 13a phường T, Quận S, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Nghỉ hưu; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thế H (Chết), con bà: Đỗ Thị I (Chết); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị T và có 03 con: Lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm: 1988; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú số 34/2018/LCCT-TA-ST ngày 16/4/2018. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ 82 phường Thọ Quang, Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng. (Đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
1- Ông Trần Văn T. Sinh năm 1971
2- Chị Trần Quỳnh N. Sinh ngày 03/02/2000;
3- Chị Trần Quỳnh C. Sinh ngày 25/11/2004; Người đại diện: Ông Trần Văn T. Sinh năm 1971; Cùng trú tại: Tổ 82 phường T, Quận S, TP Đà Nẵng. Tất cả người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1- Bà Nguyễn Thị Th. Sinh năm 1958; Trú tại: Tổ 13A phường T, Quận S, TP Đà Nẵng, có đơn xin xét xử vắng mặt
2-Ông Trần Thanh S. Sinh năm 1983; Trú tại:Tổ 13A phường T, Quận S, TP Đà Nẵng, có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 05/11/2017, ông Trần Thế H có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô BKS 43H-8469 (chở phía sau bà Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1958, là vợ của ông H) chạy trên đường Ngô Quyền, theo hướng Sơn Trà - Non Nước. Khi di chuyển để khu vực trụ điện CS166T58 thuộc phường T, Quận S do trời mưa nên ông H cúi mặt xuống tránh mưa bay vào mắt nên không thấy bà Nguyễn Thị L đang đi bộ qua đường phía trước chiều đi của ông Hoàn. Khi ông H phát hiện ra bà L thì xe của ông H đã đến quá gần bà L nên ông H không kịp xử lý mà để xe tông vào người bà L làm bà L và xe của ông H ngã xuống dường gây ra vụ tai nạn giao thông. Bà L được đưa đến bệnh viện Đà Nẵng cấp cứu và tử vong vào ngày 07/11/2017.
Sau khi tai nạn xảy ra, hiện trường để lại như sau: Hiện trường vụ việc xảy ra tại đường N, quận S, Tp. Đà Nẵng. Đường N được thảm nhựa, mặt đường bằng phẳng, ở giữa có dải phân cách cứng, chia lòng đường thành hai phần bằng nhau, mỗi phần đường rộng 10m50 được tổ chức lưu thông phương tiện theo 01 chiều, bên trong có đường gom 6m00 được tổ chức lưu thông phương tiện theo 01 chiều.
- Từ tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 43H-8469 đo về hướng Sơn Trà đến ngang mép trụ điện CS166T58 là 3m00. Đây là điểm mốc của vụ TNGT.
- Xe mô tô BKS 43H-8469 ngã về phía bên phải, nằm trên mặt đường, đầu xe hướng về phía Non Nước.
- Từ tâm trục bánh trước xe mô tô BKS 43H-8469 đo vào mép chuẩn là 6m00.
- Từ tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 43H-8469 đo vào mép chuẩn là 4m90.
- Vết xước (1) không liên tục do xe mô tô BKS 43H-8469 tạo nên dài 5m70, điểm đầu vết xước đo vào mép chuẩn là 5m10, điểm cuối vết xước đo là gác để chân bên phải của người ngồi lái.
Tang vật tạm giữ: 01 xe mô tô BKS 43H-8469; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thế H.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 149 ngày 20/12/2017 của trung tâm pháp y TP. Đà Nẵng kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị L là do chấn thương sọ não: Nứt xương sọ, tụ máu nội sọ, dập não, phù não.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Th là vợ của bị cáo Trần Thế H xác nhận vào khoảng 19h30’ ngày 05/11/2017, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 43H8-8969 (do chủ sở hữu Trần Thanh S nhưng trên thực tế là xe của bị cáo Trần Thế H nhờ con trai đứng tên giùm) trên đường N (đường 10m50) theo hướng Sơn Trà-Non Nước chở bà Th đi bệnh viện 199 chữa bệnh. Khi đến đoạn đường trước chợ Chiều, phường T, Quận S thì va chạm với một người phụ nữ đi bộ qua đường gây ra vụ tai nạn giao thông là hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo.
Bản cáo trạng số 32/2018/CT- VKS ngày 13/4/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Thế H phạm tội ‘’Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ’’ theo Khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội ‘’Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ’’, vi phạm Điểm e, Khoản 3, Điều 30 của Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, 60 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận tiền bồi thường 10.000.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thế H cho bị cáo sử dụng.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Thế H: Bị cáo xin HĐXX xin được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Để xác định bị cáo có tội hay không có tội cần xác định lỗi của bị cáo Trần Thế H khi tham gia giao thông gây ra tai nạn cho chị Nguyễn Thị L. Ở đây bị cáo điều khiển xe mô tô BKS 43H-8469 với tốc độ 35 km/h đến 40km/h, có lái phép lái xe theo quy định. Lẽ ra, khi trời choạng tối, trời mưa bay bay, bë caïo phaíi hãút sæïc tháûn troüng, quan saït kĩ lưỡng tình trạng giao thông trên đường nhàòm âãö phoìng, traïnh nhæîng tai naûn coï thãø xaíy ra. Nhæng bë caïo âaî chuí quan, vô ý vì cẩu thả, bị cáo không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. Vì vậy, khi đến khu vực Chợ Chiều, bị cáo cúi mặt xuống để tránh mưa bay vào mắt, bị cáo không quan sát từ xa, chỉ quan sát phía trước từ 2 đến 3 mét, bị cáo không thấy bà L đi như thế nào, lúc phát hiện ra thì đã ở khoảng cách gần, bị cáo không xử lý kịp nên để xe của mình điều khiển tông vào người bà L đang đi bộ qua đường, làm bà Liễu chết. Hậu quả thiệt hại xảy ra là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội này. Tuy nhiên, người bị hại cũng có lỗi trong trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường. Qua så âäö vuû tai naûn giao thäng cuîng nhæ biãn baín khaïm nghiãûm phæång tiãûn liãn quan âãún tai naûn giao thäng thç tháúy vuû tai naûn xaíy ra lỗi hỗn hợp, bë caïo có lỗi thiếu quan sát kỹ khi có người đi bộ xin qua đường. Điều âoï thãø hiãûn bë caïo Trần Thế H âiãöu khiãøn xe trãn âæåìng khäng cháúp haình caïc quy âënh vãö âiãöu khiãøn phæång tiãûn giao thäng âæåìng bäü, vi phaûm vaìo khoaín 23 âiãöu 8 Luáût giao thäng âæåìng bäü. Song ở người bị hại cũng có lỗi không đi đúng phần đường dành cho người đi bộ đã vi phạm tại Điều 32 Luáût giao thäng âæåìng bäü.
Do tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt mạng cho người bị hại mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tình hình hiện nay. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo một hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Lẽ ra phải cách ly bị cáo một thời gian, song xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là cán bộ hưu trí có nơi cư trú rõ ràng, xét sau khi gây ra tai nạn, bị cáo đã lo hậu sự cho người bị hại và bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của người bị hại, được đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin bãi nại và có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, p Khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Vì vậy, căn cứ Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nên áp dụng điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.
. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận tiền bồi thường 10.000.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không xét đến.
.Về xử lý vật chứng: Tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số T290752 mang tên Trần Thế H do Sở GTCC TP Đà Nẵng cấp ngày 25/10/2004 để bị cáo sử dụng.
. Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thế H phạm tội ‘’Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ’’.
Áp dụng Khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; Khoaín 23 âiãöu 8 Luáût giao thäng âæåìng bộ năm 2008; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thế H 9 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bị cáo Trần Thế H về Uỷ ban nhân dân phường T, Quận S, TP Đà Nẵng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì cơ quan thi hành án hình sự có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong nên không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 42 BLHS năm 1999, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số T290752 mang tên Trần Thế H do Sở GTCC TP Đà Nẵng cấp ngày 25/10/2004 (Hiện đang có tại hồ sơ vụ án).
Án phí HSST: Bị cáo Trần Thế H phải chịu 200.000đ.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 10/5/2018. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Bị cáo
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa -Những người tham gia tố tụng -VKSND Quận Sơn Trà -CA Quận Sơn Trà -Cơ quan THAHS -UBND nơi BC cư trú -Lưu hồ sơ, VT
TRẦN THỊ BÉ *Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Các bị cáo
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa -Những người tham gia tố tụng -VKSND Quận Sơn Trà -CA Quận Sơn Trà -Cơ quan THAHS
TRẦN THỊ BÉ -Trại giam -UBND nơi BC cư trú -Lưu hồ sơ, VT
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
| *Nơi nhận: -Bị cáo -Những người tham gia tố tụng -VKSND Quận Sơn Trà -CA Quận Sơn Trà -Cơ quan THAHS -Trại giam -UBND nơi BC cư trú -Lưu hồ sơ, VT | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa TRẦN THỊ BÉ |