- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST Đặng Văn N - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Dân sự: Bị hại anh Ngô Văn V1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2018/HS-ST Ngày 21-9-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Hóa
Ông Vũ Văn Lẫy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Huyền-Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường- Kiểm sát viên.
Ngày 21tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 817/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Đặng Văn N, sinh năm 1988, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ 24 khu 3, phường V, quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T (đã chết) và bà Hà Thị N; tiền án: Bản án số 52/2005/HSST ngày 16/3/2005, Tòa án nhân dân quận L, Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 01/6/2018, tạm giam ngày 08/6/2018; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ngô Văn V1; ĐKHKTT: Thôn Q, xã M, huyện A, Hải Phòng; chỗ ở: Số 743 đường T, phường T, quận K, Hải Phòng; vắng mặt
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
Đặng Văn T, vắng mặt
Trịnh Quốc T, vắng mặt
Phạm Thị T, vắng mặt
Hồ Xuân T, vắng mặt
Nguyễn Quốc V2, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 01/6/5018, bị cáo đang ở nhà thì Bùi Ngọc V gọi điện đến bào là: Có đi lượn phượn tí không (bị cáo hiểu đi lượn phượn ý là đi trộm cắp tài sản), bị cáo đồng ý, một lát sau V điều khiển xe máynhãn hiệu Yamamha Sirius (bị cáo không nhớ biển số vì xe của V) đến đón bị cáo, cả hai đi sang khu vực K để tìm tài sản sơ hở sẽ trộm cắp. Khi cả hai đi qua số nhà 743 đường T, phường T, K, Hải Phòng, thì V bảo bị cáo có xe máy để trên vỉa hè, không có ai trông coi, V đi qua rồi quay lại, bị cáo và V tiến xe gần đến chiếc xe máy trên, bị cáo đi lại gần tiếp cận xe, V đỗ xe cách đó một đoạn sát vỉa hè. Bị cáo đi lại gần xe máy HONDA Airblade BKS: 14P9 – 3760 được dựng ngang cửa nhà, chìa khóa vẫn cắm vào ổ khóa xe, bị cáo ngồi lên xe vặn khóa để nổ máy nhưng không được, tiếp đó bị cáo dùng chân trái gạt chân chống rồi dùng lực hai chân đẩy xe được một đoạn ngắn, bất ngờ phía sau bị cáo có người túm cổ áo bị cáo kéo lại, bị cáo biết mình bị phát hiện nên nhảy ra khỏi xe, xe bị đổ, người này hô hoán, bị cáo sợ hãi chạy về hướng Cầu Nguyệt khoảng 100m thì bị bắt gữi, khi bị cáo bị phát hiện bị cáo không rõ V chạy đi đâu.
Bị cáo và V không bàn bạc, không tổ chức mà khi V rủ bị cáo, V nói thấy gì hay thì lấy, bị cáo hiểu có đồ gì sơ hở có giá trị thì lấy.
Quá trình bắt giữ, Công an thu của bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone, số IMEL: 990002799291350 và 01 ví da màu đen bên trong không chứa gì.
Về dân sự: Bị hại anh Ngô Văn V đã nhận lại tài sản là 01 Honda Airblade BKS: 14P9 – 3760 và không yêu cầu gì đối với bị cáo.
Tại Kết luận định giá 19/KL-ĐG ngày 05/6/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận K kết luận: 01 chiếc xe mô tô màu đỏ đen đã qua sử dụng, BKS 14P9 – 3760 tại thời điểm ngày 01/6/2018, có giá trị là: 13.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKS ngày 16/8/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đặng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên bản Cáo trạng số: 26/CT-VKS ngày 16/8/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đặng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 xử phạt mức án từ 18- 24 tháng tù; dân sự: Không; vất chứng: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone, số IMEL: 990002799291350 và 01 ví da màu đen bên trong không chứa gì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tốđã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhậnnhư nội dung vụ án đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định ngày 01/6/2018, khoảng14 giờ 00 phút, tại nhà số 743 Trần Tất Văn, Tràng Minh, K, Hải Phòng, lợi dụng sơ hở không có người trông, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô BKS 14P9 – 3760 màu đỏ đen có giá trị là: 13.000.000 đồng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tiền án, tiền sự: Tại Bản án số 52/2005/HSST ngày 16/3/2005, Tòa án nhân dân quận L, Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích.
Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan Điều tra Công an quận K ra Quyết định xử lý vật chứng số: 14 ngày 26/6/2018, trả lại cho bị hại HONDA Airblade BKS: 14P9 - 3760.
Chiếc xe YAMAHA Sirius BKS: 15G1-026.04, là phương tiện V chở bị cáo đi trộm cắp là đeo biển kiểm soát giả, biển kiểm soát thật là 34G1-025.82 của anh Nguyễn Quốc Việt là chủ sở hữu, chiếc xe này đã bị mất vào ngày 24/5/2018 ở số 766 Tôn Đức Thắng, Sở Dầu, Hồng Bàng, Hải Phòng. Cơ quan Công an quận K đã có công văn gửi Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp nhận tang vật để điều tra theo thẩm quyền.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự, trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone, số IMEL: 990002799291350 và 01 ví da màu đen bên trong không chứa gì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Biên bản giao nhận ngày 05/9/2018)
Về dân sự: Bị hại anh Ngô Văn V1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Đối với Bùi Ngọc V, hiện đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra Công an quận K tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn N 18 (mười tám) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/6/2018.
Dân sự: Bị hại anh Ngô Văn V1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106, Bộ luật Tố tụng dân sự: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone, số IMEL: 990002799291350 và 01 ví da màu đen bên trong không chứa gì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Biên bản giao nhận ngày 05/9/2018)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáođược quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TANDTP Hải Phòng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận K;
- Chi cục THADS quận K;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: HS; HCTP.
Sơn Thị Nhân
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc
trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán...,đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6)ghiđầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tênKiểm sát viênthực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các
(ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam,
thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14)và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ:
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo
được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họtên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự;nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người
tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhâncó liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sựvà những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |