vanban.org

Bản án 29/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn T 1 phạm tội “ Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Xử phạt Phạm Văn T1 12 (mườ i hai) tháng cải tạo không giam giữ, xong đượ c khấ u trừ 07 ngày tạm giữ = 21 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành là 11 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày UBND nơi bị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện gia…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn T 1 phạm tội “ Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2018/HS-ST
Ngày 15/3/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU- SƠN LA

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hường.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Le và ông Nguyễn Bá Sửu.

Thư ký phiên toà: ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyệ n Yên Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà

: bà Phạm Thanh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2017/HSST ngày 20/12/2017 theo quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử số : 39/2018/QĐXXST-HS ngà y 01/3/2018 đối với bị cáo:

Phạm Văn T 1, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1990 tại huyệ n V, tỉnh Ninh Bình. Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã G, huyệ n V, tỉnh Ninh Bình; trình độ văn hoá lớp: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộ c: Kinh; giớ i tí nh: Nam; tôn giá o: Không; quố c tị ch: Việ t Nam. Con ông: Phạm Văn T 2, sinh năm 1966 và con bà: Nguyễ n Thị L , sinh năm 1963, họ tên vợ: Nguyễn Thị O, sinh năm 1994 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012, Thôn T, xã G, huyệ n V, tỉnh Ninh Bình. Tiề n á n, tiề n sự : Không.Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2017 cho đế n ngà y 25/10/2017 bị cơ quan Cả nh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp ngăn chặn , cho bả o lĩ nh. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Ngườ i bị hạ i: Bà Đào Thị H ( đã chế t).

Đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Trầ n Văn D, sinh năm 1981 (là chồ ng củ a bà Đào Thị H). Trú tại: Bản K, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La (Có mặt ).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH thương mạ i vậ n tả i và du lịch H . Đị a chỉ : Xã B, huyệ n T, thành phố Hà Nội . Đạ i diệ n: Ông Phạ m Văn T3 – Giám đốc.

Đạ i diệ n uỷ quyề n : Ông Phạ m Văn T 4, sinh năm 1982, chứ c vụ : Điề u hà nh độ i xe. Đị a chỉ : Xã B, huyệ n T, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà , nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:

Bị cáo Phạm Văn T 1 đượ c Sở giao thông vậ n tả i tỉ nh Ninh Bì nh cấ p giấ y phé p lái xe ô tô hạng A1, C ngà y 11 tháng 12 năm 2014 và có giá trị đến ngày 11/12/2019, sau khi đượ c cấ p giấ y phé p lá i xe Phạ m Văn T1 ký hợp đồng lao động lái xe thuê cho Công ty TNHH TM – VT và du lịch H, đị a chỉ : Khu C, thôn V, huyệ n T, Hà Nội. T1 đượ c Công ty giao cho lá i xe loạ i xe ô tô tả i (có mui) BKS 29C – 397.05 chở hà ng là nướ c giả i khá t cá c loạ i từ công ty đi đế n huyệ n S, tỉnh Sơn La.

Ngày 18/10/2017 T1 nhậ n lệ nh điề u khiể n xe vậ n chuyể n 13,2 tấ n nướ c giả i khát các loại từ huyện T , Hà Nội đi S , tỉnh Sơn La để giao hà ng th eo hợ p đồ ng củ a Công ty. Khoảng 06 giờ ngà y 19/10/2017, Phạm Văn T 1 điề u khiể n xe ô tô đi đế n Km 251 + 785 QL 6A thuộ c đị a phậ n Bả n M , xã S, huyệ n Y, tỉnh Sơn La, T1 buồ n ngủ, điề u khiể n xe không chú ý quan sá t , đi sá t lề đườ ng p hải nên ô tô do T1 điề u khiể n đâm và o chị H đang dắ t xe đạ p đi sá t lề đườ ng phả i (hườ ng Hà Nộ i – Sơn La). Hậ u quả tai nạ n xả y ra , chị H bị thương tích nặng, không có khả năng cứ u chữ a và tử vong ngay tạ i hiệ n trườ ng.

Ngay sau khi xả y ra vụ tai nạ n giao thông , cơ quan CSĐT Công an huyệ n Y, tỉnh Sơn La đã chủ trì tổ chứ c khá m nghiệ m hiệ n trườ ng , khám nghiệm tử thi theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

Cơ quan điề u tra tiế n hà nh xá c đị nh tố c độ xe ô tô trướ c thờ i điể m xả y ra tai nạn giao thông, thông qua hệ thố ng đị nh vị GPS kế t nố i vớ i hộ p đen gắ n trên xe ô tô cho thấ y: Ngay trướ c thờ i điể m xả y ra tai nạ n , vào lúc 06 giờ ngà y 19/10/2017, xe ô tô đi vậ n tố c cao nhấ t trong kho ảng thời gian là 23km/h; tố c độ chậ m nhấ t trong khoảng thời gian là 8km/h.

Tại biên bản giám định số 92 ngày 25/10/2017 của Công ty cổ phần cơ khí Sơn La kế t luậ n: Các hệ thống, tổ ng thà nh củ a xe hoạ t độ ng bì nh thườ ng . Đối chiế u hồ sơ kỹ thuật, thông tin phương tiệ n trên cơ sở dữ liệ u củ a Cụ c đăng kiể m Việ t Nam khớ p vớ i kiể m tra thự c tế củ a xe , hạn kiểm định lần cuối của xe : 04/01/2018. Phương tiệ n đủ tiêu chuẩ n lưu hà nh.

Kế t quả đo nồ ng độ cồ n trong khí thở củ a Phạm Văn T 1 là 0,000mg/L và kế t quả xét nghiệm que thử ma tuý: âm tí nh vớ i ma tuý .

Theo bả n kế t luậ n giá m đị nh phá p y về tử thi số 70 ngày 30/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kế t luậ n: Nguyên nhân tử vong củ a bà Đà o Thị H là sốc đa chấn thương.

Bụng, đù i bị mấ t da, tổ chứ c dướ i da, cơ dậ p ná t trên diệ n rộ ng.

Vế t thương thấ u bụ ng.

Ngành chậu mu xương mu phải bị vỡ phức tạp thành nhiều mảnh. Động mạch, tĩnh mạch đùi phải bị rách, đứ t gầ n hoà n toà n.

Sau khi sự việ c xả y ra, Phạm Văn T1 đã đế n cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Yên Châu đầ u thú và khai nhậ n toà n bộ hà nh vi như đã nêu trên.

Về trá ch nhiệ m dân sự : Trong quá trì nh điề u tra, gia đì nh Phạm Văn T1 đã bồ i thườ ng cho gia đì nh ngườ i bị hạ i Đà o Thị H vớ i số tiề n 148.000.000đ. Gia đì nh bị hạ i nhấ t trí vớ i phầ n bồ i thườ ng trên và đề nghị giả m nhẹ hì nh phạ t cho T1.

T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 01/KS§T- TA ngµy 20/12/2017, ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Yªn Ch©u ®· truy tè bÞ c¸o Phạm Văn T1 vÒ téi: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 ®iÒu 202 Bộ luật hình sự năm 1999.

T¹i phiªn toµ xÐt xö bÞ c¸o, sau khi kÕt thóc phÇn thÈm vÊn, ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t ph¸t biÓu luËn téi vÉn gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè bÞ c¸o Phạm Văn T1 theo nh néi dung b¶n c¸o tr¹ng vµ ®Ò nghÞ Héi ®ång xÐt xö

Về hình phạt: Áp dụng: khoản 1 điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 31 BLHS đề nghị mức án hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ . Giao bị cáo cho UBND xã G, huyệ n V, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục.

Hình phạt bổ sung: không khấ u trừ thu nhậ p.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 584, điều 586, điều 589; điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận việc các bên tự thỏa thuận bồi trách nhiệm dân sự với số tiền 148.000.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: áp dụng khoản 2, Điề u 47 BLHS, Điể m a khoả n 3, Điêì 106 BLTTHS: đề nghị tuyên cho bị cáo Phạm Văn T1:

- 01 giấy pháp lái xe hạng A1, C số: 370129045025 mang tên Phạm Văn T1 do Sở GTVT Ninh Bì nh cấp ngày 11 tháng 12 năm 2014

Án phí: Áp dụng khoản 1, 2 điều 99 BLTTHS; khoản 1 điều 20, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc bị cáo Phạm Văn T1 chịu án phí HSST 200.000 đồng.

Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện người bị hại không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự của bị cáo, về trách nhiệm hình sự, gia đình bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện công ty không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, đề nghị HĐXX giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phạm Văn T1.

Căn cứ vào c¸c tµi liÖu, chøng cø ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn tßa, trªn c¬ së xem xÐt ®¸nh gi¸ ®Çy ®ñ, toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, lêi khai cña bÞ c¸o vµ nh÷ng ng êi tham gia tè tông kh¸c.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c

tranh tụ ng tạ i phiên toà . Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:

[1] Về hà nh vi tố tụ ng, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Yên Châu, Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu và ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng thuộ c các cơ quan này trong quá trình điều tra , truy tố đã thự c hiệ n đú ng thẩ m quyề n , trình tự thủ tụ c theo quy đị nh củ a Bộ luậ t tố t ụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đạ i diệ n bị hạ i và đạ i diệ n ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi , quyế t đị nh củ a cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng , ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng . Do đó , các hành vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a cơ quan tiế n hà nh tố tụng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo xác định như sau: Lờ i khai củ a bị cá o trong giai đoạ n điề u tra và tạ i phiên toà phù hợ p vớ i nhau ; phù hợp với lời khai của người làm chứ ng, ngườ i đạ i diệ n củ a bị hạ i ; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường , khám nghiệm tử thi , bản kết luận giám định pháp y và cá c tà i liệ u, chứ ng cứ khá c có trong hồ sơ vụ á n . Sự phù hợ p đó thể hiệ n : Bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định , đủ điề u kiệ n lá i xe ô tô hạ ng C số : 370129045025 do Sở giao thông vậ n tả i tỉ nh Ninh Bình cấp ngày 11/12/2014, ngày 19/10/2017, tại Km 251 + 785 Quố c lộ 6A, Phạm Văn T1 điề u khiể n xe 29C- 397.05 không chú ý quan sá t đã đâm và o Đà o Thị H đang dắ t xe đạ p đi phí a trướ c cù ng chiề u . Hậ u quả Đà o Thị H tử vong, vi phạ m và o khoả n 23 điề u 8 Luậ t giao thông đườ ng bộ .

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về điề u khiể n phương tiệ n giao thồ ng đườ ng bộ ”, tộ i danh và hì nh phạ t đượ c quy đị nh tạ i khoản 1 điề u 202 BLHS năm 1999:

1.“ Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

[3] Về hì nh phạ t á p dụ ng đố i vớ i bị cá o:

Tình hình tai nạn giao thông thời gian gần đây có diễn biến khó lường , chủ yế u do ý thứ c củ a ngườ i tham gia gi ao thông. Do đó , việ c đưa ra xé t xử và á p dụ ng hình phạt đối với người thực hiện hành vi vi phạm an toàn giao thông gây nguy hiể m cho xã hộ i là cầ n thiế t.

Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử đã xem xét toàn diện nội dung của vụ án, lỗi của bị cáo khi tham gia giao thông, các nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến việc bị cáo phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. HĐXX nhận định đánh giá như sau:

Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng rất nguy hiểm cho xã hội , bị cáo đủ hiểu biết về luật giao thông đường bộ nhưng từ việc bị cáo không chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật đặc biệt là Luật giao thông đường bộ . Điều khiển xe ô tô vi phạ m quy tắ c giao thông đườ ng bộ , hành vi khá c gây nguy hiể m cho ngườ i và phương tiệ n tham gia giao thông đườ ng bộ , dẫn tới tai nạn giao thông gây nên hậu quả nghiêm trọng làm chết một người.

Đánh giá về lỗi của bị cáo thấy rằng bị cáo phạm tội do lỗi vô ý .

Với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải có một mức hình phạt thật tương xứng thì mới phù hợp với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra. Tuy nhiên quá trình lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Về tì nh tiế t giả m nhẹ : Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà , bị cáo thành khẩn khai báo , tự nguyệ n thoả thuậ n vớ i đạ i diệ n gia đì nh ngườ i bị hạ i bồ i thườ ng toà n bộ thiệ t hạ i , đạ i diệ n gia đì nh bị hạ i đề nghị giả m nhẹ hì nh phạ t cho bị cáo, sau khi tai nạ n xả y ra, bị cáo đã đến cơ quan Công an huyệ n để đầ u thú . HĐXX áp dụng điểm b, p khoả n 1, khoản 2 điề u 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để giảm nhẹ mộ t phầ n hì nh phạ t cho bị cá o.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm . Tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước. Hậu quả do bị cáo gây ra là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, sau khi hậu quả xảy ra bị cáo đã khắc phục bồi thường hậu quả cho người bị hại, thật thà khai báo, ăn năn hối cải với hành vi mà bản thân gây ra, ngoài hành vi đang bị xử lý ra thì bị cáo không bị xử phạt hay phạm vào hành vi nào khác, bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã đến cơ quan Công an huyện Yên Châu đầu thú, khai nhận hành vi của bản thân. Tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp cho bị hại cũng đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương, bị cáo được gia đình và chính quyền địa phương có đơn xin bảo lãnh. Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu đề nghị cho bị cáo hưởng án cải tạo không giam giữ , có sự giám sát của chính quyền đị a phương nơi bị cá o cư trú nhằ m trừ ng trị , đồ ng thờ i giá o dụ c bị cá o trở thà nh công dân có í ch cho xã hộ i.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập đều, hoàn cảnh gia đình có khó khăn, vì vậy HĐXX không áp dụng hình phạt khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo.

[4]Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện gia đình bị hại đã được bồi thường, việc thoả thuận bồi thường giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Tại phiên toà đại diện người bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Công ty TNHH TM – VT và DL H không có yêu cầ u gì về trá ch nhiệ m dân

sự đố i vớ i bị cá o T1, vì vậy HĐXX không gải quyết.

[5] Về vật chứng vụ án:

01 xe ô tô nhã n hiệ u DONGFENG , màu sơn vàng, biể n kiể m soá t 29C – 397.05, xe bị hư hỏ ng do TNGT.

01 bản sao của Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 022989, mang tên CT TNHH TM - VT và DL H, do Phò ng CSGT – Công an TP Hà Nộ i cấ p ngà y 30/8/2014.

01 Giấ y chứ ng nhậ n kiể m đị nh số 1988570, do trung tâm đăng kiể m xe cơ giớ i số 29-01V cấ p ngà y 05/01/2017.

01 Giấ y chứ ng nhậ n bắ t buộ c bả n hiể m số 002992521, do Công ty B cấ p ngà y 28/8/2017.

01 xe đạ p mà u trắ ng, bạc không rõ nhãn hiệu bị hư hỏng.

Ngày 26/10/2017 và ngày 17/11/2017 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở

hữu hợ p phá p đúng quy định tại khoản 2 điều 47 BLHS và điều 106 BLTTHS.

Vật chứng còn lại gồm: 01 giấy pháp lái xe hạng A1, C số: 370129045025 mang tên Phạm Văn T1 do Sở GTVT Ninh Bì nh cấp ngày 11 tháng 12 năm 2014. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên trả cho bị cáo.

Hiện toàn bộ số vật chứng còn lại nêu trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng của cơ quan Thi hành án dân sự huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La

[6] Về án phí: Căn cứ điều 99 BLTTHS; điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn T 1 phạm tội “ Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

1. Áp dụng khoản 1 điều 202, điểm b,p, Khoản 1 khoản 2 Điều 46 và Điều 31, Điề u 42 Bộ luậ t hì nh sự , Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 điề u 7 BLHS năm 2015.

Xử phạt Phạm Văn T1 12 (mườ i hai) tháng cải tạo không giam giữ, xong đượ c khấ u trừ 07 ngày tạm giữ = 21 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành là 11 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày UBND nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Phạm Văn T1 cho UBND xã G, huyệ n V, tỉnh Ninh Bình giám sát và giáo dục.

Trườ ng hợ p bị cá o thay đổ i nơi cư trú thì thự c hiệ n theo quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 69 Luậ t Thi hà nh á n hì nh sự .

Không áp dụng hình phạt bổ sung và không áp dụng việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

2. Áp dụng điều 42 BLHS, Áp dụng điều 584, điều 586, điều 589; điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận việc các bên tự thỏa thuận bồi trách nhiệm dân sự với số tiền 148.000.000 đồng.

3. Về vật chứng của vụ án: áp dụng khoản 2, Điề u 47 BLHS, Điể m a khoả n 3, Điêì 106 BLTTHS:

Tuyên trả cho bị cáo Phạm Văn T1:

01 giấy pháp lái xe hạng A1, C số: 370129045025 mang tên Phạm Văn T1 do Sở GTVT Ninh Bì nh cấp ngày 11 tháng 12 năm 2014.

Hiện toàn bộ số vật chứng còn lại nêu trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng của cơ quan Thi hành án dân sự huyện Yên Châu - Sơn La.

4. Về Án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn T1 phải nộp án phí HSST là 200.000 đồng.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi liên quan, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Sơn La./.

Cỡ chữ