vanban.org

Bản án 29/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn với ông Phùng Văn Đ. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn với ông Phùng Văn Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thi H ly hôn với ông Phùng Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 29/2018/HNGĐ-ST
Ngày 19/6/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trƣờng Hải;

Ông Kim Niệm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Dƣơng - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phƣơng Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 Địa chỉ: Ấp Cà Na, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

- Bị đơn: Ông Phùng Văn Đ, sinh năm 1991 Địa chỉ: Ấp Cà Na, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 12 năm 2017 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Phùng Văn Đ có tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cƣới và đƣợc cha mẹ hai bên đồng ý, ngày 21/9/2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhƣng đƣợc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thƣờng xuyên bất đồng quan điểm, nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn là do ông Đ không quan tâm tới gia đình. Hiện nay Bà H và ông Đ đã sống ly thân. Nay, Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, Bà H yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Trong quá trình sống chung Bà H và ông Đ có 02 con chung tên Phùng Minh N, sinh ngày 12/5/2013 và Phùng Minh Đ, sinh ngày 29/01/2015. Khi ly hôn Bà H yêu cầu đƣợc nuôi 02 con, Bà H không yêu cầu ông Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Phùng Văn Đ: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về các phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đƣa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn ông Đ vắng mặt không có lý do theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án, ông Đ cũng không cung cấp chứng cứ nào liên quan đến vụ án cho Tòa án, nên Tòa án đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã áp dụng đầy đủ đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhƣng vắng mặt không có lý do nên Tòa án đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn Bà H yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Đ, xét mâu thuẫn giữa Bà H và ông Đ không thể hàn gắn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hòa, về con chung xét cháu Phùng Minh N, sinh ngày 12/5/2013 và Phùng Minh Đ, sinh ngày 29/01/2015 còn nhỏ, hiện nay Bà H đang trực tiếp nuôi dƣỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 cháu cho Bà H trực tiếp nuôi dƣỡng, về tài sản chung và nợ chung do các đƣơng sự không có yêu cầu nên Viện Kiểm sát không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà H yêu cầu ly hôn với ông Đ, hiện nay Bà H và ông Đ có hộ khẩu thƣờng trú tại xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của ông Phùng Văn Đ; trong quá trình giải quyết vụ án ông Đ đã đƣợc Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên ông Đ vắng mặt không có lý do và không cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án cho Tòa án nên Tòa án đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy, Bà H và ông Đ có tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cƣới và đƣợc cha mẹ hai bên đồng ý, ngày 21/9/2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng. Nhƣ vậy, quan hệ hôn nhân giữa Bà H và ông Đ là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhƣng đƣợc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thƣờng xuyên bất đồng quan điểm, nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn là do ông Đ không quan tâm chăm lo cho gia đình. Ngày 05/3/2018, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã AB thấy rằng, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa Bà H và ông Đ không báo nên chính quyền địa phƣơng không biết, về vấn đề con chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, do ông Đ vắng mặt không cung cấp chứng cứ để chứng minh bảo vệ quyền lợi cho mình, Hội đồng xét xử căn cứ trên các chứng cứ Bà H giao nộp cho Tòa án, xét việc Bà H yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Đ là có căn cứ đƣợc chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Trong quá trình sống chung Bà H và ông Đ có 02 con chung tên Phùng Minh N, sinh ngày 12/5/2013 và Phùng Minh Đ, sinh ngày 29/01/2015. Xét 02 cháu hiện nay còn nhỏ, Bà H có nguyện vọng đƣợc nuôi 02 con nên Hội đồng xét xử giao con Phùng Minh N và Phùng Minh Đ cho Bà H trực tiếp nuôi dƣỡng, ông Đ không phải cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đƣơng sự không có yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.

Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn với ông Phùng Văn Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn với ông Phùng Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phùng Minh N, sinh ngày 12/5/2013 và Phùng Minh Đ, sinh ngày 29/01/2015 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng, ông Phùng Văn Đ không phải cấp dƣỡng nuôi con.

Ông Phùng Văn Đ và bà Nguyễn Thị H đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai đƣợc ngăn cản. Vì lợi ích của con chƣa thành niên, khi có đơn yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết việc thay đổi ngƣời nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Do đƣơng sự không có yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đƣợc khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo Biên lai thu số 0008414 ngày 02 tháng 01 năm 2018.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ