vanban.org

Bản án 29/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt: bị cáo Triệu Văn K 01 (Một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2017). Về hình phạt bổ sung: không.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn Kh- Tàng trữ trái phép CMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Triệu Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CỬA LÒ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2017/HSST
Ngày 28/09/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- TỈNH NGHỆ AN

VỚI HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: bà Đặng Thị Lệ Hằng. Các Hội thẩm nhân dân: 1. bà Nguyễn Thị Thủy: cán bộ Liên đoàn Lao động thị xã Cửa Lò. 2. bà Lê Thị Thúy Vân: cán bộ UBND phường Nghi Thu, thị xó Cửa Lò.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hiền- cán bộ Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà: bà Phan Thị Vân Anh- thuộc Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại hội trường nhà văn hóa khối Hòa Đình, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2017/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2017 đối với: Bị cáo: Triệu Văn K, sinh ngày 23/4/1977 Nơi cư trú: thôn Điềm He 1, xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Trình độ văn hoá: 12/12

Nghề nghiệp: lái xe

Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Triệu Văn H và bà Triệu Thị Ph. Bị cáo có vợ là Vũ Bích Ng, sinh năm 1978 và 02 con- Triệu Đức T, sinh năm 2012 và Triệu Đức D, sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ,tạm giam từ ngày 08/06/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Triệu Văn K là khách du lịch nghỉ tại nhà nghỉ Thiên Hoa thuộc khối 2, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Sáng ngày 08/6/2017, khi đi bộ từ nhà nghỉ đến ngã ba giao nhau giữa đường Mai Bảng với đường Bình Minh, K gặp một nam thanh niên nói tiếng địa phương, sau khi trao đổi một lúc K đã nhờ người này mua hộ heroin. Người thanh niên này đồng ý và K đã đưa cho anh này hai trăm nghìn đồng. Người thanh niên cầm tiền và hẹn K đợi ở đó. Khoảng 10 giờ 30 phút người đó quay lại và đưa cho K một gói giấy nhỏ màu vàng bên trong có một gói ni lông đựng chất bột màu trắng. Sau khi nhận được số hàng mà người thanh niên đó giao, K đi về nhà nghỉ thì bị tổ công tác thuộc Công an thị xã Cửa Lò phát hiện yêu cầu kiểm tra nên K đã bỏ gói giấy đó vào mồm để nhai nhưng không thể nuốt được nên đã nhả ra rồi giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy nhỏ màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản niêm phong vật chứng thu giữ từ Triệu Văn K, đồng thời lập biên bản phạm pháp quả tang. Sau đó cùng với sự chứng kiến của đại diện Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định và lấy mẫu vật gửi đi giám định, gói chất bột thu giữ từ K có trọng lượng 0,265gr.

Tại bản kết luận giám định số 643 /KL- PC 54(MT) ngày 09/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: chất bột màu trắng thu giữ từ bị cáo Triệu Văn K gửi tới giám định là hêrôin.

Tại bản cáo trạng số 24/VKS- HS ngày 13 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố bị cáo Triệu Văn K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, qua xét hỏi, bị cáo Triệu Văn K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra và của Viện kiểm sát trong quá trình điều tra và truy tố. Bị cáo thừa nhận bản kết luận điều tra, bản cáo trạng số 24/VKS- HS của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH 14; khoản 3 điều 7 và điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 để xử phạt bị cáo Triệu Văn K mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,185g heroin còn lại; trả lại chiếc điện thoại Nokia 225 màu đen đã qua sử dụng cho Triệu Văn K.

Bị cáo Triệu Văn K không có ý kiến tranh luận về phần hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa . Bị cáo có lời nói sau cùng là rất hối hận về việc làm sai trái của mình và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thị xã Cửa Lò, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúngthẩm quyền, trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà, bị cáo Triệu Văn K đã khai nhận vào ngày 08/06/2017, do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng nên K đã nhờ một người đàn ông không quen biết mua một gói nhỏ ma túy với giá tiền 200.000đ. Sau khi lấy được gói ma túy để đưa về sử dụng thì bị phát hiện và bị cáo đã bỏ gói giấy chứa hêroin vào miệng nhai nuốt để phi tang nhưng không nuốt được nên đã nhả ra giao cho tổ công tác. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật thu giữ được trong vụ án và kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do số lượng ma túy chỉ có 0,265gr nên Viện kiểm sỏt nhõn dõn thị xã Cửa Lò truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 194 BLHS với hành vi tàng trữ là thỏa đáng và đúng mức.

Xét tính chất vụ án: vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng trong lúc đi du lịch tại Cửa Lò vẫn cố tìm cách liên hệ với đối tượng xấu trên địa bàn để mua ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất độc dược hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm khác và gây mất ổn định xã hội, vì vậy, việc phát hiện và xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là cần thiết nhằm phục vụ phong trào đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy trên địa bàn du lịch.

Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào nhưng có một tình tiết giảm nhẹ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, gia đình có mẹ đẻ là bà Triệu Thị Phong được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy bị cáo bị truy tố theo khoản 1điều 194 BLHS năm 1999 nhưng tại phiên tòa vị đại diện VKS đã đề nghị HĐXX áp dụng quy định tại khoản 3 điều 7 BLHS năm 2015, điểm b khoản 1 điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH 14 (điều khoản có lợi cho người phạm tội của BLHS năm 2015). Do đó, bị cáo được áp dụngmức hình phạt theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 là có căn cứ.

Căn cứ vào tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân tốt của bị cáo thì cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian với mức đầu khung hình phạt và tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bị cáo để bảo đảm cho công tác thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tại bút lục số 30 thì bị cáo K không thuộc diện hộ nghèo và có thu nhập ổn định một tháng khoảng 5 triệu đồng nhưng do bị cáo hiện đang phải chấp hành biện pháp tạm giam, vợ là giáo viên đang phải nuôi hai con nhỏ, mặt khác hành vi tàng trữ của bị cáo không làm phát sinh lợi nhuận nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra truy tố cơ quan điều tra đã thu giữ một số ma túy có trọng lượng 0,265 gr sau khi lấy một số gửi đi giám định còn lại 0,185gr được niêm phong trong bì thư có chữ ký của bị cáo Triệu Văn K cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 225 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo K, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác địnhkhông phải là phương tiện để K liên lạc mua ma túy nên cần trả lại cho bị cáo là đúng qui định.

Trong vụ án còn có đối tượng là người thanh niên mà K khai đã mua hộ số ma túy cho K nhưng cơ quan điều tra không có tài liệu chứng cứ để chứng minh và làm rõ tung tích nên không có cơ sở để xử lý.

Bị cáo Triệu Văn K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 điều 7 và điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015,

Xử phạt: bị cáo Triệu Văn K 01 (Một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2017).

Về hình phạt bổ sung: không.

Vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0.185gr ma túy còn lại thu giữ từ Triệu Văn K; trả lại cho Triệu Văn K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 225 đã qua sử dụng (Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án Dân sự Cửa Lò theo biên bản giao nhận vật chứng ngày15/9/2017).

Án phí: áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự buộc bị cáo Triệu Văn K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ