vanban.org

Bản án 29/2017/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

a, Tuyên bố: Lê Chí T phạm tội “ Mua bán trái phép ch t ma túy”.

b, Về vật ch ng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41- Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sư tịch thu tiêu hủy 1,0603g có Methamphetamine và 02 ống hút gắn vào một chai nước. Tịch thu hoán giá sung công quỹ Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft Mobile mode RM-… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Chí T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
  • Tòa quyết gì? a, Tuyên bố: Lê Chí T phạm tội “ Mua bán trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 6 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ ANH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 29/2017/HS-ST
Ngày: 19-9-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thiềm

2. Bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp, Kiểm sát viên.

Ngày19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Chí T - Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 06 tháng 06 năm 1986; Nơi cư trú: Thôn N, x B, huyện K, Hà T nh; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn Th- sinh năm: 1954; Con bà: Nguyễn Thị M - sinh năm 1962; Vợ: Đào Thị D, sinh năm 1992; Con: Có một con, sinh năm 2012, Nhân thân: Ngày 24/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà T nh tuyên phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội: “Trộm cắp Tài sản”; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2017 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà T nh.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan:

1. Hoàng Tiến P, sinh năm 1991

Cư trú: Xã Ph, huyện K, tỉnh Hà T nh (Vắng mặt)

2. Phan Thái A, sinh năm 1993

Cư trú: Xã X, huyện K, tỉnh Hà T nh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a,Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lê Chí T là đối tượng đ sử dụng ma túy từ năm 2008, thời gian đầu T sử dụng Hêrôin, đến năm 2015, T uống thuốc Mê – tha - đôn để cắt cơn và chuyển sang sử dụng ma túy đá cho đến nay. Do số lượng ma túy cần để sử dụng ngày càng nhiều trong khi bản thân T không có đủ tiền để mua nên T đ mua ma túy về vừa sử dụng vừa bán lại cho các đối tượng nghiện khác trên địa bàn nh m mục đ ch kiếm lời. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 20/05/2017, Tổ công tác của Công an huyện Kỳ Anh tiến hành kiểm tra, phát hiện trong phòng ngủ của T thuộc nhà ông Lê Văn Th (sinh năm 1954, trú tại xóm C, x B, huyện K, tỉnh Hà T nh) có 02 (hai) gói ni lon bên trong ch a ch t ma túy tổng hợp dạng đá. T khai nhận ch t ma túy ở trên được T mua của hai người đàn ông tên Đ và B ở huyện X, Hà T nh vào ngày 19/05/2017 với giá 800.000 đồng, rồi mang về chia thành các gói nhỏ c t gi u tại phòng ngủ để sử dụng và một phần bán lại kiếm lời. Từ ngày 19/05/2017 đến ngày 20/05/2017, T đ bán ma túy cho đối tượng Hoàng Tiến P một gói ni lon bên trong ch a ch t ma túy tổng hợp dạng đá với giá 300.000 đồng và Phan Thái A một gói ni lon bên trong ch a ch t ma túy tổng hợp dạng đá với giá 500.000 đồng, do A chưa có tiền nên đ để lại một chiếc điện thoại di động loại cảm ng cho T quản lý. Công an huyện Kỳ Anh đ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Chí T về hành vi “Mua bán trái phép ch t ma túy” và thu giữ toàn bộ tang vật để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Chí T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đ nêu trên

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

b)Về các vấn đề khác của vụ án:

Tại bản kết luận giám định số 65 ngày 22/05/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà T nh kết luận: Ch t tinh thể rắn màu trắng được đựng trong hai gói nilon gửi giám định có trọng lượng 1,1043gam, có Methamphetamine. Methamphetamine là ch t ma túy n m trong danh mục II, STT 67, nghị định 82 ngày 19/07/2013 của chính phủ.

c) Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát: Tại bản Cáo trạng số 27/CTr-KSĐT ngày 22 tháng 8 năm 2017, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đ truy tố bị cáo Lê Chí T về tội “Mua bán trái phép ch t ma túy " theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm b khoản 2 Khoản Điều 194, điểm p,o khoản 1 Điều 46,47 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Chí T từ 05 đến 07 năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù t nh từ ngày tạm giữ 20 tháng 5 năm 2017.

b, Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41- Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sư tịch thu tiêu hủy 1,0603g có Methamphetamine và 02 ống hút gắn vào một chai nước.

Tịch thu hoán giá sung công quỹ Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft Mobile mode RM-1110 màu đen.

Biện pháp tư pháp : Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự truy thu sung công quỹ Nhà nước ở Lê Chí T 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng)

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên về quyết định truy tố của viện kiểm sát.

Bị cáo nh t tr với quyết định truy tố của viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xét thấy hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về việc làm của mình. Vậy mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận th y như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà T nh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

. Ch ng c : Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đ nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm ch ng, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các Tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 19/05/2017, Lê Chí T đ mua một gói ma túy đá của hai người đàn ông tên Đ và B, trú tại huyện X, tỉnh Hà T nh với giá 800.000 đồng. Sau đó T đem về chia thành các gói nhỏ để sử dụng và đ bán cho đối tượng Hoàng Tiến P một gói ma túy đá với giá 300.000 đồng và Phan Thái A một gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Ngày 20/05/2017, tổ công tác Công an huyện Kỳ Anh, kiểm tra tại phòng ngủ của T thuộc nhà ông Lê Văn Th, trú tại xóm C, xã B, huyện K, tỉnh Hà T nh đ phát hiện và thu giữ 1,1043g (một phẩy một không bốn ba gam) có Methamphetamine, đồng thời lập biên bản phạm tội quả tang đối với Lê Chí T và thu giữ toàn bộ tang vật để xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì vậy có đủ căn c để kết luận: Lê Chí T phạm tội “Mua bán trái phép ch t ma túy” Theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đ truy tố.

Hội đồng xét xử ch p nhận những ch ng c buộc tội, ch ng c gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên và lời trình bày, đề nghi của bị cáo

. T ch ch t, m c độ của hành vi phạm tội:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Từ ngày 19/5/2017 đến ngày 20/5/2017 Lê Chí T đ thực hiện nhiều lần mua bán trái phép ch t ma túy. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là phạm tội nhiều lần quy định được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sư.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho x hội. Do đó cần phải xét xử thật nghiêm đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đ thành khẩn khai báo và tự thú, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm điểm p, điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x hội một thời gian nh t định

Về hình phạt bổ sung:Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm”, đo đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động , không có thu nhập lại nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Đ và B bán ma túy cho Lê Chí T, trong quá trình điều tra không xác định được danh t nh, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với Phan Thái A và Hoàng Tiến P mua ma túy của T để về sử dụng nên hành vi không c u thành tội phạm.

. Vật ch ng vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh đ thu giữ các vật ch ng sau: 1. 1,1043g (một phẩy một không bốn ba gam) có Methamphetamine đựng trong một phong bì dán k n( đ l y 0,0440 gam làm mẫu giám định) số còn lại 1,0603g (một phẩy không sáu không ba gam) được niêm phong;

2. Một công cụ để sử dụng ma túy gồm có 02 ống hút gắn vào một chai nước ;

3. Một điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft Mobile mode RM-1110 màu đen . Hội đồng xét xử xét th y: 1,1043g (một phẩy một không bốn ba gam) có Methamphetamine( đ l y 0,0440 gam làm mẫu giám định) số còn lại 1,0603g (một phẩy không sáu không ba gam) là hàng c m ; 02 ống hút gắn vào một chai nước và Một điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft Mobile mode RM-1110 màu đen các vật chưng nói trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo.

Căn c điểm a khoản 1 Điều 41- Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sư cần tịch thu tiêu hủy 1,0603g có Methamphetamine và 02 ống hút gắn vào một chai nước.

Tịch thu hoán giá sung công quỹ Nhà nước . Một điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft Mobile mode RM-1110 màu đen.

Biện pháp tư pháp : Căn c vào điểm a khoản 1 Điều 41, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự cần truy thu sung công quỹ Nhà nước ở Lê Chí T 300.000 đồng do T bán ma túy cho Hoàng Tiến P mà có và 400. 000 đông do T bán ma túy cho Phan Thái A, nhưng do A chưa có tiền nên đ cắm cho T một điện thoại di động, sau đó T đ bán lại cho một người không quen biết tại quán cà phê 400.000 đồng.

. Về án ph : Bị cáo phải nộp án ph theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

a, Tuyên bố: Lê Chí T phạm tội “ Mua bán trái phép ch t ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Khoản Điều 194, điểm p, điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Chí T 07 năm( Bảy năm) tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam 20 tháng 5 năm 2017.

b, Về vật ch ng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41- Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sư tịch thu tiêu hủy 1,0603g có Methamphetamine và 02 ống hút gắn vào một chai nước.

Tịch thu hoán giá sung công quỹ Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft Mobile mode RM-1110 màu đen.

Biện pháp tư pháp : Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự truy thu sung công quỹ Nhà nước ở Lê Chí T 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng)

c, Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử buộc Lê Chí T phải nộp 200.000 đồng án ph HSST.

d, Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án c p trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Báo cho người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án c p trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhân được bản án.

Cỡ chữ