vanban.org

Bản án 29/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH XIV, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đào được ly hôn với anh Nguyễn Văn Lập. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ - Nguyễn Văn L "Ly hôn và tranh chấp nuôi con""
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH XIV, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 03 – 8 – 2017.
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Giáp Hà Tĩnh.

2. Bà Đinh Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Khánh – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2017/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2017, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2017/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đào, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn 2, xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Lập, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn 2, xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Thể hiện trong các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn – Chị Nguyễn Thị Đào trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chị Nguyễn Thị Đào và anh Nguyễn Văn Lập tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã Đồng Kho vào năm 2010. Sau khi kết hôn, các bên chung sống hạnh phúc với nhau. Do cuộc sống kinh tế gia đình khó khăn và vợ chồng không còn tin tưởng nhau nên đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị Đào không thể chung sống với anh Lập được nên từ tháng 3/2017 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân, chị Đào và anh Lập rất ít liên lạc, gặp gỡ nhau và cũng không còn quan tâm, chia sẻ lẫn nhau.

- Về con chung: Chị Đào và anh Lập có hai người con chung tên là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 10/11/2010 và Nguyễn Hữu Nghĩa, sinh ngày 23/12/2012. Hiện nay, anh Lập đưa hai người con này đi ở đâu thì chị Đào không biết. Nếu ly hôn chị Đào có nguyện vọng được nuôi hai người con cho đến khi thành niên và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đào không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2017 anh Nguyễn Văn Lập trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2010 chị Đào và anh Lập tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã Đồng Kho. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau, đến tháng 01/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Do chị Đào đi làm ăn xa nên không có thời gian gần gủi, chăm sóc gia đình. Mặc dù, đã nhiều lần anh Lập khuyên chị Đào kiếm công việc gần nhà để có điều kiện chăm sóc các con, nhưng chị Đào vẫn không đồng ý. Anh Lập nghi ngờ trong thời gian làm xa nhà chị Đào đã có quan hệ với người đàn ông khác nên đã có những hành động không tốt đối với anh lập. Cho nên vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn với nhau. Hiện nay, anh Lập vẫn còn tình cảm với chị Đào và rất mong muốn vợ chồng quay về chung sống lại với nhau. Cho nên, anh Lập không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Lập và chị Đào có hai người con chung tên là Nguyễn Hữu Nghĩa, sinh ngày 23/12/2012 và Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 10/11/2010. Hiện nay, những người con này do anh Lập trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh Lập có nguyện vọng được tiếp tục nuôi hai người con này cho đến khi thành niên và không yêu cầu chị Đào cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lập không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Những chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

- Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – Chị Nguyễn Thị Đào đã cung cấp cho Tòa án những chứng cứ sau: 01 Giấy chứng nhận kết hôn số 31/2010, ngày 23/9/2010 của Ủy ban nhân dân xã Đồng Kho. 02 Giấy khai sinh (bản sao) lần lượt mang tên Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Hữu Nghĩa. 01 Sổ hộ khẩu gia đình do ông Nguyễn Văn Thắng đứng tên chủ hộ (bản phô tô có chứng thực). 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Đào (bản phô tô có chứng thực) và một bảng thanh toán lương của Công ty TNHH may mặc Premier Global.

- Anh Nguyễn Văn Lập không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan trong vụ án.

- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ như: Các biên bản xác minh tại xã Đồng Kho xác định: Hiện nay anh Nguyễn Văn Lập có đăng ký HKTT tại địa phương. Hiện nay, anh Lập đã dẫn hai người con tên Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Hữu Nghĩa đi khỏi địa phương nhưng không thông báo cho chính quyền địa phương được biết nên chính quyền địa phương không biết anh Lập đã đưa con đi đâu. Quá trình sống tại địa phương, giữa vợ chồng chị Đào, anh Lập đã phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ cải vã nhau.

- Chị Nguyễn Thị Đào và anh Nguyễn Văn Lập đã thống nhất: Các bên tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2010 tại UBND xã Đồng Kho. Chị Đào và anh Lập có chung hai người con tên là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 10/11/2010 và Nguyễn Hữu Nghĩa, sinh ngày 23/12/2012. Hiện nay, anh Lập là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con.

[4]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biếu ý kiến như sau:

- Ý kiến về việc tuân theo Pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Thư ký, Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị HĐXX áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; các Điều 146, 147, 203, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH XIV, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đề nghị HĐXX tuyên xử:

-Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Đào được ly hôn với anh Nguyễn Văn Lập.

- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Đào trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu Nghĩa, sinh năm 2012 đến khi thành niên và giao cháu Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 10/11/2010 cho anh Nguyễn Văn Lập trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Chị Đào và anh Lập không phải cấp dưỡng tiền nuôi con qua lại nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con không được bên nào ngăn cản.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đào phải nộp án phí ly hôn 300.000đ nhưng được được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay. Mặc dù toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh Nguyễn Văn Lập đều vắng mặt không có lý do. Sau khi đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật và theo đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tại phiên toà. Toà án nhân dân huyện Tánh Linh quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn Lập là hoàn toàn phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS.

. Về quan hệ pháp luật pháp luật trong vụ án:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn - Chị Nguyễn Thị Đào yêu cầu giải quyết ly hôn và giải quyết việc nuôi dưỡng con; Anh Nguyễn Văn Lập không có yêu cầu nào khác. Cho nên, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con” là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Tánh Linh.

. Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đào:

Hội đồng xét xử xét thấy: Vào năm 2010 chị Nguyễn Thị Đào và anh Nguyễn Tấn Lập tự nguyện kết hôn tại UBND xã Đồng Kho, huyện tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2013 do gặp khó khăn về vấn đề kinh tế gia đình nên anh Lập, chị Đào không còn sự tin tưởng lẫn nhau. Do đó, vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau. Do nhận thấy cuộc sống không còn hạnh phúc nên từ tháng 5/2016 đã sống ly thân với nhau cho đến nay. Trong thời gian này, mặc dù anh Lập đã nhiều lần tác động chị Đào về tiếp tục về chung sống lại với nhau, nhưng chị Đào vẫn không đồng ý. Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2017 anh Lập thừa nhận vẫn còn tình cảm với chị Đào nên rất mong muốn quay về chung sống lại với nhau. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị Đào xác định không còn tình cảm gì với anh Lập và nhận thấy cuộc sống vợ chồng vợ chồng không có hạnh phúc nên không thể chung sống được với nhau. Do đó, chị Đào đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng đến Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ, nhưng anh Lập không có mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoạn tụ được.

HĐXX xét thấy: Tình trạng mẫu thuẫn vợ chồng giữa anh Lập và chị Đào đã kéo dài và trầm trọng. Liên tục trong thời gian dài vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc tới nhau, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không còn sự chia sẽ lẫn nhau. Bản thân chị Đào không mong muốn quay về chung sống với anh Lập. Tại biên bản xác minh ngày 24/04/2017 xác định được cuộc sống hiện tại của vợ chồng anh Lập, chị Đào đã nảy sinh mâu thuẫn và cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Điều đó thể hiện tình trạng hôn nhân đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần xử cho chị Đào được ly hôn với anh Lập là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Đào và anh Nguyễn Văn Lập có chung hai người con chung tên là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm 10/11/2010; Nguyễn Hữu Nghĩa, sinh ngày 23/12/2012. Anh Lập và chị Đào đều có nguyện vọng được nuôi các con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2017 (bút lục 35) của anh Nguyễn Văn Lập khai nhận: Anh Lập hiện nay có nghề nghiệp không ổn định lúc làm nông, lúc thì làm bốc vác có thu nhập hàng tháng khoảng 10.000.000đ. Anh Lập xác định do phải lo đi làm nên các con sẽ được gửi cho người thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại các biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án (bút lục 31, 30) thể hiện: Hiện nay anh Lập vẫn còn đang sinh sống tại địa phương nhưng không có nơi ở cố định. Anh Lập thường đi làm thuê, khai thác cây do công việc không ổn định nên không thể xác định được thu nhập thực tế hàng tháng của anh Lập là bao nhiêu. Tại phiên tòa, chị Đào trình bày đang làm việc tại công ty may ở Bình Dương với thu nhập bình quân hàng tháng là 5.117.000đ. Nếu được quyền nuôi con thì chị Đào sẽ gửi con cho nhà cha mẹ ruột nuôi dưỡng và tiếp tục đi làm xa để kiếm tiền nuôi con. Xét thấy: Nguyện vọng được quyền nuôi con của anh Lập, chị Đào là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi xem xét giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần phải đảm bảo về quyền lợi mọi mặt của con và điều kiện của người trực tiếp nuôi dưỡng. Do hiện nay anh Lập không có nghề nghiệp và chỗ ở ổn định và chị Đào phải thường xuyên đi làm xa nhà nên nếu giao hai người con chung này cho một bên nuôi dưỡng thì điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung sẽ gặp nhiều khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao người con chung Nguyễn Hữu Nghĩa, sinh ngày 23/12/2012 cho chị Đào được quyền nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Giao cho anh Lập được quyền nuôi con chug là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 10/11/2010 cho đến khi thành niên là phù hợp.

. Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con: Anh Lập, chị Đào không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét đến.

. Về tài sản chung và nợ chung: Các bên không có yêu cầu gì nên không xét đến.

. Về án phí: Cần buộc chị Nguyễn Thị Đào phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước là phù hợp với Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH XIV, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; các Điều 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH XIV, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đào được ly hôn với anh Nguyễn Văn Lập.

Về con chung:

- Buộc anh Nguyễn Văn Lập phải giao con chung tên là Nguyễn Hữu Nghĩa, sinh ngày 23/12/2012 cho chị Nguyễn Thị Đào có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên.

- Tiếp tục giao cho anh Nguyễn Văn Lập có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục một người con chung tên Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 10/11/2010 cho đến khi thành niên.

- Chị Nguyễn Thị Đào và anh Nguyễn Văn Lập không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng cho nhau; nhưng đều được quyền thăm nom, chăm sóc các con; không ai được quyền ngăn cản.

- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Đào phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà Nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Đào đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số N.0011857 ngày 11/4/2017, của chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Chị Đào đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án – Ngày 03/08/2017. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Cỡ chữ