vanban.org

Bản án 289/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Chau R: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Chau R phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu R - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Chau R: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 289/2025/HS-ST
Ngày 14 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Văn Chánh

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 279/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

CHAU R, sinh ngày 01 tháng 04 năm 2006, tại An Giang; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp N, phường T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Con ông: Chau U, sinh năm 1985 và bà Neáng Sóc L, sinh năm 1981; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp từ ngày 10/07/2025 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Biên Hoà - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đồng Nai (có mặt).

- Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn F

Địa chỉ: Ấp N, phường T, tỉnh Đồng Nai

Đại diện của bị hại: Bà Lê Hoàng Kim Ph, sinh năm 1992.

Địa chỉ: S, tổ B, đường Hà Huy G, khu phố H, phường B, tỉnh Đồng Nai.

- Người chứng kiến:

1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1988

2. Bà Nguyễn Thị Kh, sinh năm 1984

(Bà Ph, bà D, bà Kh Vắng mặt - Có đơn xin vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chau R là công nhân làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn F tại ấp N, phường T, tỉnh Đồng Nai. Khi làm việc tại đây, R biết được nhân viên văn phòng thường hay để tiền của công ty ở trong các ngăn bàn làm việc nên R đã nảy sinh ý định trộm cắp tiền để tiêu xài.

Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 09/7/2025, R đi bộ đến khu vực tường rào của công ty rồi leo qua hàng rào để vào bên trong công ty. Sau đó, R đi đến cửa thoát hiểm tại tầng 1 và đi lên tầng 2 để đến khu vực văn phòng của công ty. Tại đây, R thấy phòng kế toán khoá cửa nên đã đi vào phòng hành chính để tìm tài sản nhưng không phát hiện được gì nên R nảy sinh ý định leo lên trần nhà để sang phòng kế toán. Lúc này, R leo lên bàn, mở 01 (một) ô vuông trên trần nhà, luồn người vào và leo sang phòng kế toán. Tại đây, R tìm thấy trong ngăn tủ của bàn làm việc gần cửa ra vào có 01 (một) bịch nilon màu xanh lam, bên trong có nhiều phong bì chứa tiền. R lấy tiền trong phong bì ra và xếp lại thành 01 (một) cọc tiền rồi bỏ lại vào bịch nilon màu xanh lam. Tiếp đó, R tìm trong các ngăn tủ của bàn làm việc khác thì phát hiện 01 (một) túi nilon đựng tài liệu, bên trong có nhiều cọc tiền nên R lấy số tiền trên bỏ vào bịch nilon màu xanh lam. Sau khi lấy trộm tài sản, R đi về phòng trọ tại ấp N, phường T rồi chia số tiền ra làm hai phần, một phần cất giấu tại gác ngủ, phần còn lại R bỏ vào trong túi vải và treo lên sào đồ.

Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 09/7/2025, bà Lê Hoàng Kim Ph (sinh năm 1992) là nhân viên của phòng Kế toán đến công ty làm việc thì phát hiện bị mất trộm tiền nên đã trình báo Công an phường Tân Triều. Khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, Công an phường Tân Triều đã kiểm tra hành chính phòng trọ của Chau R và phát hiện số tiền 74.154.000 đồng (bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng) được R cất giấu trong phòng trọ nên đã mời R về trụ sở làm việc. Tại đây, R đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên Công an phường Tân Triều đã lập hồ sơ để điều tra, xử lý theo quy định.

Vật chứng vụ án: Số tiền 74.154.000 đồng (bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã tạm giữ và trả lại cho bà Lê Hoàng Kim Ph (đại diện của công ty Fine Home Sofa).

Về dân sự: Bà Lê Hoàng Kim Ph (đại diện của công ty Fine Home Sofa) đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSKV1 ngày 21/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo: Chau R về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Chau R phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Về tình tiết tăng nặng: Không; Về tình tiết giảm nhẹ tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo phạm tội lần đầu quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Hoàng Kim Ph (đại diện của công ty Fine Home Sofa) không yêu cầu Chau R bồi thường.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Chau R không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo không trình bày.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Lời khai của bị cáo và bị hại tại hồ sơ và tại phiên tòa phù hợp vật chứng. Qua đó, đã có đủ cơ sở để xác định: Ngày 09/7/2025, Chau R đã đột nhập vào phòng kế toán của Công ty Trách nhiệm hữu hạn F tại ấp N, phường T, tỉnh Đồng Nai và thực hiện hành vi trộm cắp 74.154.000 đồng (bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng) thì bị bắt giữ để điều tra xử lý. Do đó, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Chau R đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ Luật Hình sự.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người dân tộc Khmer, học vấn thấp, nhận thức còn hạn chế và tài sản đã thu hồi được nên cần có mức án vừa đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung và thể hiện tính nhân đạo của Pháp luật.

. Xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Hoàng Kim Ph (đại diện của công ty Fine Home Sofa) đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khỏa 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Chau R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Chau R: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2025.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Chau R phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Người có mặt thời hạn tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt thời hạn tính từ ngày nhận bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo, bị hại;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;

- VKSND khu vực 1 - Đồng Nai;

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- Cơ quan điều tra;

- Phòng THADS khu vực 1 - Đồng Nai;

- Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;

- UBND cấp phường/xã nơi bị cáo cư trú;

- Lưu hồ sơ.

Lê Hồng Ngọc

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Số: 167/2025/TB-TA

Đồng Nai, ngày 15 tháng 12 năm 2025

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 289/2025/HS-ST, ngày 14/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai) đối với bị cáo Chau R có sai sót cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Tại phần lý lịch bị cáo dòng 08 từ dưới đếm lên của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“ Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/07/2025 cho đến nay...........”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

Tại phần lý lịch bị cáo dòng 08 từ dưới đếm lên của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“ Bị cáo bị bắt khẩn cấp từ ngày 10/07/2025 cho đến nay..........”

Cỡ chữ