vanban.org

Bản án 289/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 14/12/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Đoàn Văn Q. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu cháu Đoàn Đức Anh, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2012 và cháu Đoàn Kim Anh, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H và Đoàn Văn Qu ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 289/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14-12-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi
ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 333/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố Nguyễn Huệ, phường Minh Đức, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Đoàn Văn Q, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Nguyễn Huệ, phường Minh Đức, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, hiện đang ở: Số 20 Marbeth Ct, Botany downs, Auckland, New Zealand; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:

Về quan hệ vợ cH: Chị Hoàng Thị H kết hôn với anh Đoàn Văn Q trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 11 tháng 5 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường Minh Đức, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống bình thường. Đến năm 2018, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống và kinh tế nên vợ cH thường xuyên xảy ra tranh cãi. Năm 2019, anh Q đã xuất cảnh đi lao động tại New Zealand và hiện chưa trở về Việt Nam. Từ đó đến nay anh Q không liên lạc với chị. Đến nay, chị và anh Đoàn Văn Q đã không còn tình cảm, quan tâm lẫn nhau, không còn quan hệ gì với nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ cH không còn, không còn khả năng đoàn tụ nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Văn Q để mỗi người ổn định cuộc sống mới.

2. Về con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Đoàn Văn Q có hai con chung là cháu Đoàn Đức Anh, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2012 và cháu Đoàn Kim Anh, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013. Khi ly hôn, chị đề nghị giao cho chị nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H và anh Đoàn Văn Q tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, bị đơn anh Đoàn Văn Q gửi về từ nước ngoài (đã giám định đúng chữ viết, chữ ký) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đoàn Văn Q thống nhất quan điểm của chị Hoàng Thị H về thời điểm kết hôn, quan hệ vợ cH và nguyên nhân mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa anh và chị H đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay chị Hoàng Thị H làm đơn đề nghị ly hôn với anh, anh đồng ý.

Về con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Đoàn Văn Q có hai con chung là cháu Đoàn Đức Anh, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2012 và cháu Đoàn Kim Anh, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi con đủ 18 tuổi, anh đồng ý. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký về cơ bản đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt chị Hoàng Thị H và anh Đoàn Văn Q là đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 227, khoản 1 Ðiều 228 điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 và khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, 14, 51, 53, 56, khoản 1 Điều 89 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H: Về quan hệ hôn nhân và gia đình, cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Đoàn Văn Q; về con chung: Đề nghị giao hai con chung là Đoàn Đức Anh, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2012 và cháu Đoàn Kim Anh, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh Q tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Các đương sự có Q kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm Q: Chị Hoàng Thị H và anh Đoàn Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 11 tháng 5 năm 2012. Chị Hoàng Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Chị Hoàng Thị H hiện đang cư trú tại Hải Phòng, anh Đoàn Văn Q đang cư trú tại nước ngoài. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm Q giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị H và bị đơn anh Đoàn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của chị Hoàng Thị H thống nhất với lời khai bị đơn anh Đoàn Văn Q, lời khai của đại diện gia đình về thời gian kết hôn, về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ cH. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị Hoàng Thị H và anh Đoàn Văn Q có mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm, lối sống. Từ năm 2019, anh Đoàn Văn Q đã đi lao động tại nước ngoài sinh sống và làm việc, từ đó đến nay không quay lại Việt Nam. Hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị H và anh Q cùng xác định tình cảm vợ cH không còn, hai bên đã ly thân không ai còn quan tâm đến ai cả về tình cảm cũng như kinh tế, do khoảng cách địa lý xa xôi khó có khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa hai bên đã thực sự không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ cH đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị H, cho chị H được ly hôn anh Đoàn Văn Q.

Về con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Đoàn Văn Q có hai con chung là cháu Đoàn Đức Anh, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2012 và cháu Đoàn Kim Anh, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013. Khi ly hôn, chị H và anh Q thống nhất đề nghị giao cho chị H nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy hiện hai cháu đang ở với chị H, đều có đơn đề nghị được ở với mẹ. Và thực tế hai cháu ở mẹ từ khi sinh ra cho đến nay, anh Q hiện đang ở nước ngoài. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định và tốt hơn cho các cháu, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, giao hai cháu cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H và anh Đoàn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không cần xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hoàng Thị H là nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Về Q kháng cáo: Các đương sự có Q kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Đoàn Văn Q.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu cháu Đoàn Đức Anh, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2012 và cháu Đoàn Kim Anh, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2013 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Không ai được cản trở Q thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000279 ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Hoàng Thị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Về Q kháng cáo:

Chị Hoàng Thị H được Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Anh Đoàn Văn Q được Q kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thoả thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ