- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178BLHS - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội ―Cố ý làm hƣ hỏng tài sản‖.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 289/2022/HS-ST Ngày 21 – 9 -2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Hồng Lan Thảo;
2. Ông Nguyễn Văn Minh.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Thái Văn Chinh, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 263/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 279/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh năm: 1988 tại tỉnh Bình Dƣơng; hộ khẩu thƣờng trú: Số 12F, đƣờng Nguyễn Công T, khu phố Đ A, phƣờng Đ H, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Trần Thị L (đã chết); bị cáo có 09 anh em, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1993; vợ tên Trần Thị Bé H, sinh năm 1989; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/7/2022; đến ngày 12/7/2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị hại: Trần Duy C, sinh năm 1977, trú tại: 122/6 tổ 11, khu phố 8, phƣờng Tân Chánh H, Quận 12, thành phố H. Vắng mặt;
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Trần Thị L1, sinh năm 1981; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/7/2022, Nguyễn Văn V đi nhậu về thì nhìn thấy trƣớc nhà V tại địa chỉ số 12F đƣờng Nguyễn Công T, khu phố Đ A, phƣờng Đ H, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xe ô tô loại FOCUSDB biển số 30A – 904.10 đậu chắn trƣớc cửa nhà. Lúc này, V đi xung quanh tìm chủ sở hữu xe thì đƣợc biết xe trên là của anh Trần Duy C, sinh năm 1977, trú tại: 122/6 tổ 11, khu phố 8, phƣờng Tân Chánh H, Quận 12, thành phố H đang đi dự đám cƣới gần đó. Khi nghe V hỏi tìm chủ xe thì anh C đã chạy ra để dời xe di chuyển đi nơi khác. V đi về nhà trƣớc, anh C đi sau. Trên đƣờng về nhà do bực tức nên V đã nhặt 01 cục gạch bên đƣờng ném vào kính phía sau xe ô tô của anh C, kế tiếp V đi lại phía sau xe mô tô của V lấy 01 lƣỡi hái tiếp tục bổ vào phần kính phía sau xe làm bể kính xe của anh C. Thực hiện xong hành vi, V đi vào nhà. Anh C đến Công an phƣờng Đ H trình báo sự việc. Công an phƣờng Đ H đã mời V về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, V đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 78/BBĐG-HĐĐGTS ngày 08/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận:
Xe ô tô con nhãn hiệu FORD, số loại: FOCUSDB3AODBMT, màu đen, số khung: RL04DFEMMR6J00480, số máy: AODB6J00480, biển số: 30A-904.10 bị hủy hoại hƣ hỏng với chi phí nhƣ sau:
1. 01 Kính chắn gió phía sau số tiền 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm ngàn đồng).
2. Làm đồng vết móp trên trần xe số tiền 800.000 đồng (Tám trăm ngàn đồng).
Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 78/BBĐG – HĐĐGTS ngày 08/7/2022 của Hội đồng định giá thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Tại Cáo trạng số: 281/CT-VKS ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Văn V về tội ―Cố ý làm hƣ hỏng tài sản‖ theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 09 (chín) đến 12 (mƣời hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thƣờng xong chi phí sửa chữa đối với xe ô tô biển số 30A – 904.10 với số tiền là 15.000.000 đồng, quá trình điều tra bị hại không có yêu cầu gì khác nên phần trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 cục gạch bị bể ½ và 01 lƣỡi hái dài khoảng 45cm có cán bằng gỗ là vật chứng liên quan đến vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Tại đơn xin giải quyết vắng mặt bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về với gia đình, xã hội làm ngƣời công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại; ngƣời chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu đƣợc thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/7/2022, tại trƣớc nhà số 12F đƣờng Nguyễn Công T, khu phố Đ A, phƣờng Đ H, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Văn V đã có hành vi cầm cục gạch ném và cầm 01 lƣỡi hái chém vào kính phía sau xe ô tô con nhãn hiệu FORD, số loại: FOCUSDB3AODBMT, màu đen, số khung: RL04DFEMMR6J00480, số máy: AODB6J00480, biển số: 30A-904.10 của anh Trần Duy C, sinh năm 1977, trú tại: 122/6 tổ 11, khu phố 8, phƣờng Tân Chánh H, Quận 12, thành phố H gây thiệt hại 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Nhƣ vậy, hành vi dùng cục gạch ném và dùng lƣỡi hái chém vào kính phía sau xe ô tô biển số 30A – 904.10 gây thiệt hại 4.000.000 đồng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội ―Cố ý làm hƣ hỏng tài sản’’ theo quy định khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 281/CT-VKS ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn V và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi cố ý làm hƣ hỏng tài sản của ngƣời khác là trái pháp luật nhƣng vì muốn giải tỏa cơn bực tức nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị hại cũng có một phần lỗi khi đậu xe thiếu chú ý quan sát nên đã chắn một phần lối đi vào nhà của bị cáo gây ức chế cho bị cáo dẫn đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thƣờng chi phí sửa chữa xe cho bị hại Trần Duy C với số tiền 15.000.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo đầu thú, bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động,chƣa có tiền án, tiền sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thƣờng xong cho bị hại. Quá trình điều tra bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm khoản tiền nào khác.
Xét bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội lần đầu, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cƣ trú rõ ràng, quá trình điều tra thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải. Trong quá trình tại ngoại từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử bị cáo chấp hành tốt nghĩa vụ của ngƣời đƣợc tại ngoại nên xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt chính cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét bị cáo Nguyễn Văn V làm nghề phụ hồ, không có thu nhập ổn định nên khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng số 108/2022/HSST-LCĐKNCT ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn V.
Về xử lý vật chứng: Xét 01 cục gạch bị bể ½ và 01 lƣỡi hái dài khoảng 45cm có cán bằng gỗ bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội ―Cố ý làm hƣ hỏng tài sản‖.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 03 tháng 7 năm 2022 đến ngày 12 tháng 7 năm 2022, tƣơng đƣơng 27 (hai mƣơi bảy) ngày cải tạo ko giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 08 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phƣờng Đ H, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng nhận đƣợc Bản án và Quyết định thi hành án. Trong trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.
Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng số 108/2022/HSST-LCĐKNCT ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn V.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cục gạch bị bể ½ và 01 lƣỡi hái dài khoảng 45cm có cán bằng gỗ.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TP Dĩ An; - Công an TP Dĩ An; - Chi cục THA dân sự TP Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND xã, phƣờng nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Bị cáo; bị hại; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thắm |