vanban.org

Bản án 289/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c Khoản 2 Điều 174; Điểm c, d Khoản 2 Điều 341; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tấn Phú - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 2 Điều 174; Điểm c, d Khoản 2 Điều 341; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 289/2021/HSST
Ngày: 26 -10 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thƣ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn

2. Ông Từ Anh Tuấn

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh – Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 237/2021/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 281/2021/QĐXXST- HS ngày 14/9/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dƣơng Tấn Ph, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi ĐKNKTT: Ấp 4, xã Ph, huyện C, tỉnh Đ; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Văn S, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1966; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2021 đến nay. Bị cáo có đơn yêu cầu đƣợc xử v ng mặt.

- Bị hại:

Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1984; trú tại : Xóm 8, xã T, huyện T, tỉnh Th. Có đơn yêu cầu xét xử v ng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1) Chị Dƣơng Thị Thạch Th, sinh năm 1995; trú tại: khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu xét xử v ng mặt.

2) Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974; trú tại : khu phố T, phƣờng T, thành phố Dĩ, tỉnh B. Có đơn yêu cầu xét xử v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm t t nhƣ sau:

Tháng 9/2019, Dƣơng Tấn Ph đi làm nhân viên cho công ty Cổ phần đầu tƣ và phát triển địa ốc L (viết t t là Công ty L) có trụ sở phƣờng B, quận Th, thành phố H chuyên về kinh doanh bất động sản. Dƣơng Tấn Ph làm ở bộ phận chăm sóc khách hàng, hƣớng dẫn khách đi xem đất và làm thủ tục chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất cho ngƣời mua.

Trong quá trình làm, Dƣơng Tấn Ph đã giới thiệu và làm thủ tục chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Mạnh H thửa đất số 451, tờ bản đồ số 6, địa chỉ ở ấp 2, xã Minh Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phƣớc với diện tích là 1.039,5m2, loại đất trồng cây lâu năm. Anh Nguyễn Mạnh H đã đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh H, Ph có hứa hẹn là khi nào Nhà nƣớc cho chuyển đổi mục đích từ đất trồng cây lâu năm lên đất ở nông thôn thì sẽ liên hệ với anh H làm hồ sơ chuyển đổi cho anh. Đến cuối năm 2019, Ph nghỉ làm việc tại công ty L. Trong thời gian này, Ph ăn chơi và mƣợn tiền của bạn bè không có khả năng trả, Ph đã tìm đến những ngƣời trƣớc đây mua đất của công ty L thông báo cho họ là Nhà nƣớc cho chuyển mục đích sử dụng đất, sau đó làm giả hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất để chiếm đoạt tiền của họ.

Ngày 18/11/2020, Ph liên hệ với anh H đƣa thông tin giả cho anh H biết là đất của anh H mua đƣợc Nhà nƣớc cho chuyển lên đất ở nông thôn. Chuyển đổi 300m2 giá là 120.000.000 đồng, tiền công đi làm hồ sơ là 5.000.000 đồng, tổng cộng là 125.000.000 đồng. Anh H đồng ý với giá mà Ph đƣa ra. Ngày 28/11/2020, anh H tạm ứng cho Ph 25.000.000 đồng kinh phí đi làm hồ sơ. Sau khi nhận đƣợc tiền tạm ứng để chuyển mục đích sử dụng đất, Ph không đi làm theo quy định mà lên mạng xã hội đặt làm giả một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giống nhƣ giấy của anh H đƣợc cấp và thêm vào có 300m2 đất ở nông thôn. Đến ngày 11/12/2020, Ph báo cho anh H nói đất đã chuyển đƣợc mục đích sử dụng và ra sổ mới xong rồi, anh H chuẩn bị tiền để lấy sổ. Đến ngày 13/12/2020, Ph mang sổ đỏ đã đƣợc làm giả đến giao cho anh H. Lúc này, anh H không có ở nhà nên nói với Ph mang đến giao cho chị ruột của anh H là Nguyễn Thị L ở đƣờng Ng, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Khi đến nơi, Ph gặp chị L đƣa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, chị L yêu cầu Phú đƣa các biên lai nộp tiền thuế và các giấy tờ liên quan. Do Ph không chuẩn bị các giấy tờ này nên hứa với chị L sẽ giao các giấy tờ đó sau. Vì vậy, chị L chỉ giao Phú số tiền 50.000.000 đồng, khi nào giao đầy đủ các giấy tờ thì nhận số tiền còn lại. Ph đồng ý nhận số tiền trên và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị L. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, chị L đƣa lại cho anh H, anh H nghi là sổ giả nên báo cho cơ quan Công an thành phố Dĩ An. Ngày 23/01/2021, Ph đến nhà chị L giao các giấy tờ có liên quan và nhận số tiền còn lại là 50.000.000 đồng. Ph viết giấy nhận tiền của anh H và khi đang giao nhận tiền thì bị Công an thành phố Dĩ An b t quả tang.

Vật chứng tạm giữ gồm:

- Số tiền 50.000.000đ (năm mƣơi triệu đồng);

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số: CU862671, chủ sở hữu: Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1984;

- Giấy chứng minh nhân dân số: 341625436, mang tên “Lê Văn Ph”, sinh ngày 12/6/1991, đề ngày 29/12/2014 đƣợc chứng thực bản sao đúng với bản chính có hình dấu tròn có nội dung: “* UBND XÃ PHƢƠNG TRÀ * H. CAO LÃNH . TỈNH ĐỒNG THÁP”;

- Biên nhận thu tiền thuế đất ở tại nông thôn có hình dấu tròn có nội dung “CỤC THUẾ TỈNH BÌNH PHƢỚC”;

- Biên bản bàn giao sổ hồng đề ngày 13/12/2020;

- Giấy xác nhận về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất không đề ngày, tháng, năm;

- 01 giấy giao nhận tiền.

*) Theo kết luận giám định số 205 ngày 20/5/2021 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác g n liền với đất số: CU862671, chủ sở hữu: Nguyễn Mạnh H, sinh năm: 1984, CMND số: 151517360, đề ngày 11/12/2020 là giả, làm giả bằng biện pháp in phun màu điện tử.

*) Theo kết luận giám định số 143/GĐ- PC09 ngày 03/4/2021 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận về đối tƣợng giám định nhƣ sau:

- Hình dấu tròn có nội dung “*UBND XÃ PHƢƠNG TRÀ * H. CAO LÃNH . TỈNH ĐỒNG THÁP” trên “Giấy chứng minh nhân dân” số: 341625436, mang tên “Lê Văn Ph”, sinh ngày 12/6/1991, đề ngày 29/12/2014, đƣợc chứng thực đúng với bản chính (kí hiệu A1);

- Hình dấu tròn có nội dung “CỤC THUẾ TỈNH BÌNH PHƢỚC” và “CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM” trên “Biên nhận thu tiền thuế đất ở nông thôn đề ngày 27/11/2020 (kí hiệu A2);

- Hình dấu tròn có nội dung “MSDN 5901161065 * TX. DĨ AN – T . BÌNH DƢƠNG – CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN ĐỊA ỐC LONG HẢI” trên “Biên bản bàn giao sổ hồng”, đề ngày 13/12/2020 (kí hiệu A3);

- Hình dấu tròn có nội dung “CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM * SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG TỈNH BÌNH PHƢỚC” trên giấy xác nhận về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất (kí hiệu A4).

Hình dấu tròn trên 04 tài liệu cần giám định (kí hiệu A1 đến A4) là giả đƣợc làm bằng phƣơng pháp in phun màu điện tử.

Ngày 29/01/2021, cơ quan Điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can.

Đối với số tiền 50.000.000 đ (năm mƣơi triệu đồng) cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Mạnh H.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Dƣơng Thị Thạch Th là em gái của Dƣơng Tấn Ph đã bồi thƣờng cho bị hại Nguyễn Mạnh H số tiền 75.000.000 đồng. Chị Th không yêu cầu Ph phải trả lại số tiền trên. Anh H đã nhận lại đủ tiền nên không có yêu cầu bồi thƣờng gì thêm, đồng thời anh H có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Theo bản cáo trạng số 257/CT- VKS ngày 15/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố bị cáo Dƣơng Tấn Ph về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm c Khoản 2 Điều 174 và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” theo Điểm c, d Khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do tình hình dịch bệnh covid 19 nên bị cáo, bị hại, ngƣời liên quan có đơn yêu cầu xét xử v ng mặt. Bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nhƣ nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 174; Điểm c, d Khoản 2 Điều 341; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dƣơng Tấn Ph mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù đối với tội Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Bị cáo Dƣơng Tấn Ph thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Dƣơng Tấn Ph đã lợi dụng lòng tin của anh Nguyễn Mạnh H, đƣa thông tin gian dối và làm giả 05 tài liệu gồm: Giấy chứng nhận quyền sửa dụng đất, biên nhận thu tiền thuế đất, biên bản bàn giao sổ hồng, giấy xác nhận về việc chuyển đổi mục đích sử dụng, giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn Ph để chiếm đoạt 125.000.000đ của anh Nguyễn Mạnh H.

Hành vi của bị cáo Dƣơng Tấn P đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” quy định tại Điểm c, d Khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình kh c phục hậu quả và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo về tội Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức là phù hợp, mức hình phạt đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là nhẹ, vì vậy Hội đồng xét xử sẽ quyết định cho phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí : Bị cáo phạm tội và bị kết án, nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c Khoản 2 Điều 174; Điểm c, d Khoản 2 Điều 341; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Dƣơng Tấn Ph phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Dƣơng Tấn Ph 04 (bốn) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 03 (ba) năm tù về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Dƣơng Tấn Ph phải chấp hành là 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/01/2021.

2. Về án phí:

Bị cáo Dƣơng Tấn Ph phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ